Thứ Bảy, 22 tháng 2, 2014

ODA

5
3. Các nguồn cung cấp ODA chủ yếu:
* Trong thời kỳ chiến tranh lạnh và đối đầu Đơng Tây: Trên thế giới tồn tại
3 nguồn ODA chủ yếu:
- Liên xơ cũ, Đơng Âu.
- Các nước thuộc tổ chức OECD.
- Các tổ chức quốc tế và phi Chính phủ.
* Hiện nay, trên thế giới có hai nguồn ODA chủ yếu: các nhà tài trợ đa
phương, và các tổ chức viện trợ song phương.
* Các nhà tài trợ đa phương gồm các tổ chức chính thức sau:
- Các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hiệp Quốc bao gồm:
+ Chương trình phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP).
+ Quĩ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF).
+ Tổ chức Nơng nghiệp và lương thực (FAO)
+ Chương trình lương thực thế giới (WFP)
+ Quĩ dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA)
+ Tổ chức y tế thế giới (WHO)
+ Tổ chức phát triển cơng nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO)
+ Quĩ phát triển nơng nghiệp quốc tế (IFDA).
- Các tổ chức tài chính quốc tế:
+ Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF)
+ Ngân hàng thế giới (WB)
+ Ngân hàng phát triển Châu á (ADB)
- Liên minh Châu Âu (EU).
- Các tổ chức phi Chính phủ (NGO)
- Tổ chức xuất khẩu dầu mỡ (OPEC)
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
6
- Quĩ Cơ - t.
* Các nước viện trợ song phương:
- Các nước thành viên Uỷ ban Hỗ trợ phát triển (DAC) của tổ chức Hợp tác
và phát triển kinh tế (OECD).
- Các nước đang phát triển.
4. Quy trình thực hiện dự án ODA.
Mỗi quốc gia có những quy định riêng đối với các cách quản lý và điều
hành nguồn vốn này. Dưới đây là một số nội dung về quy định của pháp luật
Việt Nam liên quan đến các vấn đề xung quanh các hoạt động thu hút và sử
dụng nguồn vốn ODA.
1. Quy hoạch ODA.
Bộ kế hoạch - Đầu tư căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; quy
hoạch tổng thể và kế hoạch hàng năm chủ trì việc điều phối với các Bộ, các cơ
quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ có liên quan để nghiên cứu chủ
trương và phương hướng vận động ODA, soạn thảo quy hoạch ODA và lập các
danh mục chương trình, dự án ưu tiên sử dụng ODa trình Chính phủ phê duyệt.
2. Vận động ODA.
Sau khi quy hoạch ODA và các danh mục các chương trình dự án ưu tiên
sử dụng ODA được Chính phủ phê duyệt; Bộ Kế hoạch - Đầu tư phối hợp với
các cơ quan liên quan chuẩn bị và tổ chức các hoạt động vận động ODA thơng
qua:
- Hội nghị nhóm tư vấn hàng năm.
- Các hội nghị điều phối viện trợ ngành.
- Các cuộc trao đổi ý kiến về hợp tác phát triển với các nhà tài trợ.
Trước khi tiến hành vận động ODA, các cơ quan, địa phương liên quan cần
phải trao đổi ý kiến với Bộ Kế hoạch và Đầu tư về chính sách, khả năng và thế
mạnh của các nhà tài trợ liên quan.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
7
3. Chuẩn bị nội dung các chương trình, dự án ODA.
Sau khi đạt được sự cam kết hỗ trợ của các nhà tài trợ đối với các chương
trình, dự án cụ thể, Bộ Kế hoạch - Đầu tư sẽ phối hợp cùng các đối tác tiến hành
chuẩn bị nội dung các chương trình, dự án ODA bao gồm lập đề án, lập báo cáo
tiền khả thi, báo cáo khả thi
4. Thẩm định, phê duyệt chương trình, dự án ODA.
Việc thẩm định và phê duyệt các dự án sử dụng nguồn ODA như sau:
- Các dự án đầu tư xây dựng cơ bản phải thực hiện theo quy định của Điều
lệ quản lý xây dựng cơ bản hiện hành (Nghị định 52/CP, 12/CP và các văn bản
hướng dẫn thuộc lĩnh vực này).
- Đối với các dự án hỗ trợ ngân sách, đào tạo, tăng cường thể chế Bộ Kế
hoạch - Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng có liên quan tiến
hành thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. Trong q trình thẩm
định có đề cập tới ý kiến tham gia của các bên cung cấp ODA.
- Các dự án của các tổ chức phi Chính phủ thực hiện theo Quyết định số
80/CT ngày 28/3/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là thủ tướng
Chính phủ).
5. Đàm phán ký kết.
Sau khi nội dung đàm phán với bên nước ngồi được Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt, Bộ Kế hoạch - Đầu tư chủ trì với sự tham gia của Văn phòng Chính
phủ, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại giao, Ngân hàng nhà nước Việt Nam và các cơ
quan liên quan tiến hành đàm phán với bên nước ngồi.
Trong trường hợp Thủ tướng Chính phủ chỉ định một cơ quan khác chủ trì
đàm phán với các bên nước ngồi thì cơ quan này phải thống nhất ý kiến với Bộ
Kế hoạch - Đầu tư về nội dung đàm phán và với Bộ Tài chính về hạn mức và
điều kiện vay trả (nếu là ODA hồn lại).
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
8
Kết thúc đàm phán, nếu đạt được các thoả thuận với bên nước ngồi thì cơ
quan chủ trì đàm phán phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ về nội dung làm việc,
kết quả đàm phán và những ý kiến đề xuất có liên quan.
Nếu văn bản ODA ký với bên nước ngồi là Nghị định thư, Hiệp định
hoặc văn kiện khác về ODA cấp Chính phủ thì cơ quan được Thủ tướng Chính
phủ chỉ định đàm phán phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ nội dung văn bản dự
định ký kết và các đề xuất người thay mặt Chính phủ ký các văn bản đó. Văn
bản trình Thủ tướng Chính phủ phải kèm theo ý kiến chính thức bằng văn bản
của Bộ Kế hoạch và Đầu tư (trường hợp cơ quan khác trình Thủ tướng Chính
phủ), Bộ ngoại giao, Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính.
Trong trường hợp Nghị định thư và Hiệp định hoặc các văn bản khác về
ODA u cầu phải ký kết với danh nghĩa Nhà nước Cơng hồ xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, Bộ Kế hoạch - Đầu tư (hoặc cơ quan khác với Chính phủ chỉ định
đàm phán) phải báo cáo với văn phòng Chủ tịch nước ngay từ khi bắt đầu đàm
phán với bên nước ngồi về nội dung các văn kiện dự định ký kết, đồng thời
thực hiện các thủ tục Quy định tại điều 6 khoản 3, điều 7 và điều 8 của Nghị
định 182/HĐBT ngày 28/5/1992 của Chính phủ.
6. Quản lý thực hiện.
Bộ Kế hoạch - Đầu tư phối hợp cùng với Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam lập kế hoạch bố trí vốn đối ứng trong kế hoạch Ngân sách nhà
nước và thực hiện cấp phát theo đúng cam kết tại các Điều ước Quốc tế về ODA
đã ký và các quyết định phê duyệt chương trình, dự án đầu tư sử dụng vốn ODA.
Đồng thời có trách nhiệm theo dõi, kiểm tra tình hình thực hiện, xử lý những
vấn đề liên quan thuộc thẩm quyền trong q trình thực hiện và kiến nghị Thủ
tướng Chính phủ xem xét và quyết định các biện pháp xử lý, báo cáo tổng hợp
tình hình thực hiện các chương trình, dự án sử dụng vốn ODA.
Bộ Tài chính được xác định là đại diện chính thức cho "người vay" hoặc là
Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hồ xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các
điều ước quốc tế cụ thể về ODA cho vay, có trách nhiệm phối hợp với các cơ
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
9
quan liên quan xây dựng cơ chế quản lý tài chính (cấp phát, cho vay lại, thu hồi
vốn ) đối với các chương trình, dự án ODA.
Trong q trình thực hiện, Ngân hàng nhà nước có trách nhiệm phối hợp
với Bộ Tài chính chỉ định các Ngân hàng Thương mại để uỷ quyền thực hiện
việc cho vay lại từ vốn ODA như đã nêu tại điểm điều khoản 3 điều 14 của Quy
chế về quản lý và sử dụng ODA ban hành kèm theo Nghị định 87/CP ngày
5/8/1997 của Chính phủ, thu hồi vốn trả nợ ngân sách, đồng thời tổng hợp theo
định kỳ thơng báo cho Bộ Tài chính và cơ quan liên quan tình hình thực tế về rút
vốn, thanh tốn thơng qua hệ thống tài khoản được mở tại ngân hàng của các
chương trình, dự án sử dụng vốn ODA.
Trong q trình thực hiện chương trình, dự án ODA tùy theo quy định và
thoả thuận với bên nước ngồi, các chủ trương, dự án chịu trách nhiệm tổ chức
các cuộc kiểm định kỳ hoặc đột xuất. Đại diện của Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Bộ
Tài chính, Bộ ngoại giao, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, văn phòng Chính phủ
là đại diện của Chính phủ tại các cuộc kiểm điểm này.
Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, UBND tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương
và các chủ chương trình, dự án lập báo cáo 6 tháng và hàng năm về tình hình
thực hiện các chương trình và dự án ODA gửi về Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Bộ Tài
chính, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Bộ ngoại giao, và Văn phòng Chính phủ.
7. Đánh giá.
Sau khi kết thúc, giám đốc chương trình, dự án ODA phải làm báo cáo về
tình hình thực hiện và có phân tích, đánh giá hiệu quả dự án với sự xác nhận của
cơ quan chủ quản và gửi về Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam, Bộ Ngoại giao, và Văn phòng Chính phủ.

II. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRỊ CỦA ODA.
1. Đặc điểm của ODA.
Trong giai đoạn hiện nay đã xuất hiện một số đặc điểm quan trọng sau:
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
10
Thứ nhất, tỉ trọng ODA song phương có xu thế tăng lên, ODA đa phương
có xu thế giảm đi. Q trình quốc tế hố đời sống kinh tế thế giới và xu thế hội
nhập đã tạo điều kiện cho các quan hệ kinh tế, chính trị giữa các quốc gia ngày
càng được đẩy mạnh và tăng cường. Hoạt động của một số tổ chức đa phương tỏ
ra kém hiệu quả làm cho một số nhà tài trợ ngần ngại đóng góp cho các tổ chức
này. Điều đó là ngun nhân chính tạo nên sự chuyển dịch, tỉ trọng ODA song
phương có xu thế tăng lên, ODA đa phương có xu hướng giảm đi. Điều đó đã
được chứng minh trên thực tế là trong các năm 1980 - 1994 trong tổng số ODA
của thế giới, tỉ trọng ODA song phương từ 67% tăng lên 69% trong khi đó tỉ
trọng ODA đa phương giảm từ 33% xuống 31%.
(Nguồn: Bộ Kế hoạch - Đầu tư).
Thứ hai, sự cạnh tranh ngày càng tăng trong q trình thu hút ODA.
Trên thế giới, một số nước mới giành được độc lập hoặc mới tách ra từ các
nhà nước liên bang tăng lên đáng kể và có nhu cầu lớn về ODA. Một số nước
cơng hồ thuộc Nam Tư cũ và một số nước Châu Phi bị tàn phá nặng nề trong
chiến tranh sắc tộc đang cần đến sự hỗ trợ quốc tế. ở Châu á, Trung Quốc, các
nước Đơng Dương, Myanmar cũng đang cần đến nguồn ODA lớn để xây dựng
kinh tế, phát triển xã hội. Số nước có nhu cầu tiếp nhận ODA là rất lớn vì vậy sự
cạnh tranh giữa các nước ngày càng trở nên gay gắt. Các vấn đề mà các nước
cung cấp ODA quan tâm đến tạo nên sự cạnh tranh giữa các nước tiếp nhận là
năng lực kinh tế của quốc gia tiếp nhận, các triển vọng phát triển, ngồi ra còn
chịu nhiều tác động của các yếu tố khác như: Nhãn quan chính trị, quan điểm
cộng đồng rộng rãi, dựa trên sự quan tâm nhân đạo và hiểu biết về sự cần thiết
đóng góp vào ổn định kinh tế - xã hội quốc tế. Cùng mối quan hệ truyền thống
với các nước thế giới thứ ba của các nước phát triển, hay tầm quan trọng của các
nước đang phát triển với tư cách là bạn hàng (thị trường, nơi cung cấp ngun
liệu, lao động). Mặt khác, chính sách đối ngoại, an ninh và lợi ích chiến lược,
trách nhiệm tồn cầu hay cá biệt cũng là nhân tố tạo nên xu hướng phân bổ
ODA trên thế giới theo vùng. Ngồi ra còn có thêm lý do đó là sự chuẩn bị đáp
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
11
ứng nhu cầu riêng biệt về thủ tục, quy chế, chiến lược, viện trợ khác nhau của
các nhà tài trợ trên thế giới cũng tạo nên sự chênh lệch trong q trình thu hút và
sử dụng ODA giữa các quốc gia hấp thụ nguồn vốn này. Chính sự cạnh tranh
gay gắt đã tạo nên sự tăng giảm trong tiếp nhận viện trợ của các nước đang phát
triển. Kể từ năm 1970, ODA chủ yếu hướng vào Tiểu vùng Sahara và Trung
Đơng kể cả Ai Cập. Bên cạnh đó, Trung Mỹ là vùng nhận được tỷ trọng viện trợ
tăng lên chút ít, tỷ trọng này đã thực sự bị cắt giảm mạnh đối với các vùng Nam
á (đặc biệt là ấn Độ) và Địa Trung Hải trong vòng 10 năm, từ tài khố
1983/1984 đến 1993/1994, tỷ trọng thu hút ODA thế giới của tiểu vùng Sahara
đã tăng từ 29,6% lên 36,7%, của Nam và Trung á khác và Châu Đại Dương từ
20,3% lên 22,9%; Châu Mỹ La Tinh và vùng Caribê từ 12% lên 14% (nguồn:
Bộ Kế hoạch - Đầu tư).
Thứ ba, sự phân phối ODA theo khu vực nghèo của thế giới khơng đồng
đều.
Ngun nhân tạo nên sự khác biệt như vậy có thể có rất nhiều lý giải khác
nhau, có thể là do những mong muốn của các quốc gia đi viện trợ như mở rộng
quan hệ hợp tác về chính trị hay kinh tế, mục đích xã hội, điều đó phụ thuộc rất
nhiều vào ý muốn chủ quan của nhà tài trợ. Lúc đầu họ chỉ quan tâm đến việc
thiết lập các mối quan hệ với các nước láng giềng của mình, nhưng sau họ lại
nhận thấy rằng cần thiết lập các quan hệ với các nước khác trên thế giới để tìm
kiếm thị trường trao đổi bn bán hay đầu tư mà việc đầu tiên thiết lập quan hệ
ngoại giao bằng cách viện trợ ODA. Mặt khác chính những yếu tố trong nội bộ
của quốc gia cũng tạo nên những khác biệt lớn trong q trình nhận viện trợ
như các mối quan hệ với các nước phát triển, hay những thành tích trong phát
triển đất nước hay cũng có thể là do nhu cầu hết sức cần thiết như chiến tranh,
thiên tai
Thứ tư, triển vọng gia tăng nguồn vốn ODA ít lạc quan.
Mặc dù Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã khuyến nghị dành 1% GNP của
các nước phát triển để cung cấp ODA cho các nước nghèo. Nhưng nước có khối
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
12
lượng ODA lớn như Nhật Bản, Mỹ thì tỷ lệ này mới chỉ đạt ở mức trên dưới
0,3% trong nhiều năm qua. Tuy có một số nước như Thụy Điển, Na uy, Phần
Lan, Đan Mạch đã có tỷ lệ ODA chiếm hơn 1% GNP, song khối lượng ODA
tuyệt đối của các nước này khơng lớn. Thêm vào đó tình hình kinh tế phục hồi
chậm chạp ở các nước đang phát triển cũng là một trở ngại gia tăng ODA. Ngồi
ra, hàng năm các nước cung cấp ODA dựa vào kết quả hoạt động của nền kinh
tế của mình để xem xét khối lượng ODA có thể cung cấp được. Nhưng hiện nay
các nước phát triển đang có những dấu hiệu đáng lo ngại trong nền kinh tế của
mình như khủng hoảng kinh tế hay hàng loạt các vấn đề xã hội trong nước, chịu
sức ép của dư luận đòi giảm viện trợ để tập trung giải quyết các vấn đề trong
nước.
Tuy nhiên, ở các nước phát triển, kinh tế tăng bình qn 6%/năm trong các
năm 1991 - 1994 (4%/năm trong thập kỷ 80). Đời sống nhân dân đang được cải
thiện rõ rệt. Do sự phục hồi kinh tế ở các nước phát triển, nguồn vốn chuyển
dịch vào các nước đang phát triển có thể sẽ giảm sút trong các năm tới, ODA là
một khoản vốn mà các nước phát triển hỗ trợ cho các nước đang phát triển nó
được thực hiện từ rất lâu, qua các giai đoạn nhất định, có những xu thế vận động
riêng, nhìn chung lại, xu hướng vận động hiện nay hàm chứa cả các yếu tố thuận
lợi lẫn khó khăn cho một số nước đang phát triển như nước ta đang tìm kiếm
nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, tuy nhiên các yếu tố thuận lợi là cơ bản. Xét
trên phạm vi quốc tế, ODA có thể huy động được lại tuỳ thuộc vồ chính sách
đối ngoại khơn khéo và khả năng hấp thụ vốn nước ngồi của chính nền kinh tế
nước đó. Qua đó ta có thể thấy rõ được những đặc điểm riêng biệt của ODA so
với các nguồn vốn khác.
2. Vai trò của ODA.
ODA thể hiện mối quan hệ đối ngoại giữa hai bên cung cấp và bên tiếp
nhận. Tuy vậy, đối với mỗi bên nó sẽ mang một ý nghĩa khác nhau.
a. Đối với nước xuất khẩu vốn.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
13
Viện trợ song phương tạo điều kiện cho các cơng ty của bên cung cấp hoạt
động thuận lợi hơn tại các nước nhận viện trợ một cách gián tiếp. Cùng với sự
gia tăng của vốn ODA, các dự án đầu tư của những nước viện trợ cũng tăng theo
với những điều kiện thuận lợi, đồng thời kéo theo sự gia tăng về bn bán giữa
hai quốc gia. Ngồi ra, nước viện trợ còn đạt được những mục đích về chính trị,
ảnh hưởng của họ về mặt kinh tế - văn hố đối với nước nhận cũng sẽ tăng lên.
Nguồn ODA đa phương mặc dù cũng có ưu điểm giúp các nước tiếp nhận
khơi phục và phát triển kinh tế, nhưng nó cũng có mặt tiêu cực ở chỗ dễ tạo ra
nạn tham nhũng trong các quan chức Chính phủ hoặc phân phối giàu nghèo
trong các tầng lớp dân chúng nếu khơng có những chính sách kiểm sốt và quản
lý chặt chẽ việc sử dụng nguồn vốn này trong nước.
Điều nguy hiểm nhất có thể xảy ra của viện trợ ODA là các nước cung cấp
khơng nhằm cải tạo nền kinh tế - xã hội của nước đang phát triển mà nhằm vào
các mục đích qn sự.
b. Đối với các nước tiếp nhận:
Tầm quan trọng của ODA đối với các nước đang và kém phát triển là điều
khơng thể phủ nhận. Điều này được thể hiện rõ qua những thành cơng mà các
nước tiếp nhận ODA đã đạt được.
Đầu tiên, trong khi các nước đang phát triển đa phần là trong tình trạng
thiếu vốn trầm trọng nên thơng qua ODA song phương có thêm vốn để phục vụ
cho q trình phát triển kinh tế - xã hội. ODA mang lại nguồn lực cho đất nước.
Thứ nữa, theo các nhà kinh tế, việc sử dụng viện trợ ở các nước đang phát
triển nhằm loại bỏ sự thiếu vốn và ngoại tệ, tăng đầu tư vốn đến điểm mà ở đó
sự tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện cho các nước này đạt được đến q trình tự
duy trì và phát triển.
Tạo điều kiện để các nước tiếp nhận có thể vay thêm vốn của các tổ chức
quốc tế, thực hiện việc thanh tốn nợ tới hạn qua sự giúp đỡ của ODA.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
14
ODA còn có thể giúp các nước đang lâm vào tình trạng phá giá đồng nội tệ
có thể phục hồi đồng tiền của nước mình thơng qua những khoản hỗ trợ lớn của
các tổ chức tài chính quốc tế mang lại.
ODA giúp các nước nhận hỗ trợ tạo ra những tiền đề đầu tiên, đặt nền
móng cho sự phát triển về lâu dài thơng qua lĩnh vực đầu tư chính của nó là
nâng cấp cơ sở hạ tầng về kinh tế.
ODA tác động tích cực đến phát triển kinh tế xã hội của các địa phương và
vùng lãnh thổ, đặc biệt là ở các thành phố lớn: nguồn vốn này trực tiếp giúp cải
thiện điều kiện về vệ sinh y tế, cung cấp nước sạch, bảo vệ mơi trường. Đồng
thời nguồn ODA cũng góp phần tích cực trong việc phát triển cơ sở hạ tầng
nơng thơn, phát triển nơng nghiệp, xố đói giảm nghèo
ODA giúp các doanh nghiệp nhỏ trong nước có thêm vốn, tạo điều kiện
nâng cao hiệu quả đầu tư cho sản xuất kinh doanh, dần dần mở rộng qui mơ
doanh nghiệp.
Ngồi ra ODA còn giúp các nước nhận viện trợ có cơ hội để nhập khẩu
máy móc thiết bị cần thiết cho q trình cơng nghiệp hố - hiện đại hố đất
nước, từ các nước phát triển. Thơng qua nước cung cấp ODA nước nhận viện trợ
có thêm nhiều cơ hội mới để tham gia vào các tổ chức tài chính thế giới, đạt
được sự giúp đỡ lớn hơn về vốn từ các tổ chức này.
Bên cạnh những mặt tích cực, ODA cũng có khơng ít những mặt hạn chế.
Hạn chế rõ nhất của viện trợ phát triển chính thức ODA là các nước nếu muốn
nhận được nguồn vốn này phải đáp ứng các u cầu của bên cấp viện trợ. Mức
độ đáp ứng càng cao thì viện trợ tăng lên càng nhiều.
Ngay ở trong một nước, tình trạng tập trung ODA vào các thành phố trọng
điểm cũng tạo nên sự mất cân đối trong cơ cấu kinh tế - xã hội của quốc gia đó,
làm cho hố ngăn cách giàu nghèo thành thị và nơng thơn càng trở nên cách biệt.
Cho đến nay, mặc dù bối cảnh quốc tế đã có nhiều biến đổi, song mục tiêu
và lợi ích của các nước cấp vốn theo đuổi hầu như khơng thay đổi so với trước
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN

Xem chi tiết: ODA


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét