Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Kiểm toán hiệu quả (Efficiency audit) có đối tợng trực tiếp là sự kết hợp giữa
các yếu tố, các nguồn lực trong từng loại nghiệp vụ kinh doanh: mua bán, sản
xuất hay dịch vụ. Kiểm toán loại này giúp ích trực tiếp cho việc hoạch định
chính sách và phơng hớng, giải pháp cho việc hoàn thiện và cải tổ hoạt động
kinh doanh của đơn vị kiểm toán.
Kiểm toán hiệu năng (Effectiveness audit) đợc đặc biệt quan tâm ở khu vực
công cộng (kể cả các xí nghiệp công và các chơng trình đầu t từ ngân sách) nơi
mà lợi ích và hiệu quả không còn giữ nguyên vẹn ý nghĩa của nó nh trong
doanh nghiệp, nơi mà năng lực quản lí cần đợc đánh giá toàn diện và phát triển
thờng xuyên nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả quản lí của đơn vị kiểm
toán. tất nhiên loại kiểm toán này cũng cần và có thể ứng dụng đối với quản lý
toàn bộ doanh nghiệp hoặc với từng bộ phận quản lí của mọi đơn vị kiểm toán.
Các quan niệm khác nhau kể trên không hoàn toàn đối lập nhau mà phản ánh
quá trình phát triển của cả thực tiễn và lí luận kiểm toán. Có thể minh chứng cho
nhận xét này bởi những kết luận chủ yếu rút ra từ những điều đã trình bày trên.
- Là hoạt động độc lập, chức năng cơ bản của kiểm toán là xác minh, thuyết phục
để tạo niềm tin cho những ngời quan tâm vào những kết luận kiểm toán cho dù
những kết luận này có thể hớng vào những mục tiêu cụ thể khác nhau nh tính
trung thực của thông tin, tính quy tặc trong việc thực hiện các nghiệp vụ, tính
hiệu quả hay tính hiệu năng của hoạt động. Qua xác minh, kiểm toán viên bày
tỏ ý kiến của mình về những lĩnh vực tơng ứng. Chức năng này quyết định sự
tồn tại của hoạt động kiểm toán.
- Với bản chất và chức năng trên, kiểm toán phải thực hiện mọi hoạt động kiểm
tra, kiểm soát những vấn đề liên quan đến thực trạng tài chính kể cả thực trạng
tài sản, các nghiệp vụ tài chính và sự phản ánh của nó trên sổ kế toán cùng hiệu
quả đạt đợc. Những loại công việc này tự nó đã gắn chặt vào nhau. Đó là luận
cứ cho việc tổ chức kiểm toán khoa học.
- Nội dung trực tiếp của kiểm toán trớc hết và chủ yếu là thực trạng của hoạt
động tài chính. Một phần của thực trạng này đã đợc phản ánh trên các bảng khai
tài chính hay những tài liệu kế toán nói chung. Tuy nhiên, do giới hạn về trình
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
độ và kĩ thuật xử lí thông tin kế toán, có những phần thông tin quan trọng khác
về hoạt động tài chính cha đợc phản ánh đầy đủ trong các tài liệu. Vì vậy, trong
mọi trờng hợp cần tận dụng nhữmg tài liệu kế toán nh những bằng chứng đã có
làm đối tợng trực tiếp của kiểm toán (kiểm tra chứng từ). Trong trờng hợp thiếu
những bằng chứng trực tiếp này, kiểm toán cần sử dụng những phơng pháp kĩ
thuật để tạo lập các bằng chứng kiểm toán (kiểm tra ngoài chứng từ).
- Để thực hiện chức năng trên trong phạm vi của hoạt động tài chính với nhiều
mối quan hệ phức tạp đòi hỏi kiểm toán phải hình thành một hệ thống phơng
pháp kĩ thuật riêng bao gồm cả những phơng pháp kiểm toán chứng từ (cân đối,
đối chiếu logic, diễn giải thông tin, quy nạp nguồn thông tin ) và phơng pháp
kiểm toán ngoài chứng từ (điều tra, quan sát, kiểm kê thử nghiệm ) thích ứng
với đối tợng của kiểm toán và phù hợp với các quy luật và quan hệ của phép
biện chứng.
- Kiểm toán là một hoạt động chuyên sâu, một khoa học chuyên ngành nên hoạt
động này phải đợc thực hiện bởi những ngời có trình độ nghiệp vụ chuyên sâu
về kế toán và kiểm toán. kiểm toán viên, giám định viên kiểm toán, thẩm kế
viên, kế toán viên công chứng. Đây là những kiểm toán viên chuyên nghiệp
hoạt động hay hành nghề theo pháp luật. Bên cạnh đó có những kế toán viên lâu
năm, những nhà quản lí có kinh nghiệm thực hiện cả chức năng kiểm toán nội
bộ. Có thể coi đây là những kiểm toán viên không chuyên nghiệp.
Có thể đi đến kết luận rằng., kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có
thẩm quyền có khả năng chuyên môn thu thập, đánh giá các bằng chứng về các
thông tin có thể định lợng của một đơn vị nhằm mục đích xác nhận, báo cáo về
mức độ phù hợp giữa các thông tin này và các chuẩn mực đã đợc xây dựng.
1.2. Chức năng của kiểm toán
Chức năng xác minh nhằm khẳng định mức độ trung thực của tài liệu và tính
pháp lí của việc thực hiện các nghiệp vụ hay việc lập các bảng khai tài chính. Xác
minh là chức năng cơ bản nhất gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của hoạt
động kiểm toán. Bản thân chức năng này không ngừng phát triển và đợc thể hiện
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
khác nhau tuỳ đối tợng cụ thể cuả kiểm toán là bảng khai tài chính hay nghiệp vụ
kinh tế cụ thể hoặc toàn bộ tài liệu kế toán. Đối với các bản khai tài chính, việc
thực hiện chức năng xác minh này trớc hết đợc thực hiện ở sự xác nhận của ngời
kiểm tra độc lập ở bên ngoài. Ngày nay, do quan hệ kinh tế ngày càng phức tạp và
yêu cầu pháp lí càng cao nên việc xác minh bảng khai taì chính cần có hai mặt:
Tính trung thực của các con số.
Tính hợp thức của các biểu mẫu phản ánh tình hình tài chính.
Chức năng xác minh này là "báo cáo kiểm toán" thích ứng với từng tình
huống khác nhau. Đối với các thông tin khác đã đợc lợng hoá, thông thờng việc
xác minh đợc thực hiện trớc hết qua hệ thống kiểm soát nội bộ. Kết quả cuối cùng
khi đã xác minh đợc điều chỉnh trực tiếp để có hệ thống thông tin tin cậy và lập các
bảng khai tài chính. Đối với các nghiệp vụ, chức năng xác minh của kiểm toán có
thể đợc thực hiện bởi hệ thống ngoại kiểm hay nội kiểm. Sản phẩm của hoạt động
xác minh này thờng là những biên bản. Bên cạnh đó, kiểm toán nghiệp vụ còn đợc
mở rộng ở lĩnh vực hiệu năng và hiệu quả hoạt động. ở lĩnh vực này kiểm toán h-
ớng vào việc thực hiện chức năng thứ hai là "bày tỏ ý kiến".
Trong chức năng xác minh của kiểm toán, một vấn đề đặt ra hiện nay là phát
hiện gian lận và vi phạm trong tài chính. Luôn có khoảng cách giữa mong muốn
phát hiện tất cả các gian lận và vi phạm với khả năng thực tế của tổ chức kiểm toán
cũng nh quan hệ giữa chi phí và hiệu quả kiểm toán. Về nhận thức, kiểm toán cần
tạo niềm tin cho những ngời quan tâm nên nói chung không cho phép có sai sót
trọng yếu trong đó có gian lận và sai sót lớn. Trong khi đó cũng có quan niệm kiểm
toán viên không có nghĩa vụ phát hiện tất cả các sai sót. Thậm chí có quan điểm
kiểm toán viên không có trách nhiệm phát hiện sai sót và coi đây là trách nhiệm
của nhà quản lí.
Chức năng bày tỏ ý kiến cũng có quá trình phát triển lâu dài song chỉ thấy rõ
ở thời kì phát triển của kiểm toán chủ yếu vào cuối thế kỉ 20. Tuy vậy, cách thức
thực hiện chức năng này cũng rất khác biệt giữa các khách thể kiểm toán và giữa
các nớc có cơ sở kinh tế và pháp lí khác nhau.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
ở khu vực công cộng đều đạt đợc sự kiểm soát của Nhà nớc. Trong quan hệ này
chức năng xác minh của kiểm toán đợc thực hiện tơng tự nhau. Tuy nhiên chức
năng bày tỏ ý kiến lại rất khác nhau.
ở khu vực kinh doanh hoặc các dự án nớc ngoài, khách thể bắt buộc của kiểm
toán thờng là khách thể của kiểm toán độc lập. ở đây, chức năng bày tỏ ý kiến
cũng đợc thực hiện qua phơng thức t vấn. Tuy nhiên, do khách thể chủ yếu là
các doanh nghiệp nên chức năng t vấn chủ yếu đợc biểu hiện dới hình thức các
lời khuyên hoặc các dự án.
Ngoài chức năng t vấn cho quản trị doanh nghiệp, ngày nay các công ty kiểm
toán chuyên nghiệp còn phát triển chức năng t vấn của mình trong nhiêù lĩnh vực
chuyên sâu đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính nh t vấn về đầu t, t vấn về
thuế kiểm soát nội bộ ngày nay đi sâu vào các lĩnh vực hiệu năng và hiệu quả của
hoạt động. Từ đó, chức năng t vấn cho quản lí của kiểm toán có điều kiện phát huy
đầy đủ tác dụng trong thực tiễn.
2. ý nghĩa của kiểm toán
kiểm toán sinh ra từ yêu cầu quản lí và phục vụ cho yêu cầu quản lí. Từ đó có
thể thấy rõ ý nghĩa, tác dụng của kiểm toán trên nhiều mặt nh tạo ra niềm tin cho
những ngời quan tâm đến đối tợng kiểm toán, củng cố nền nếp tài chính kế toán và
các hoạt động đợc kiểm toán đồng thời góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả
quản lí.
Thứ nhất, kiểm toán tạo niềm tin cho những ngời quan tâm. Trong cơ chế thị
trờng, có nhiều ngời quan tâm tới tình hình tài chính và sự phản ánh của nó trong
tài liệu kế toán.
- Các cơ quan Nhà nớc cần có thông tin trung thực để điều tiết vĩ mô nền kinh tế
bằng hệ thống pháp luật, chính sách kinh tế của mình với mọi thành phần kinh
tế, mọi hoạt động xã hội. Đặc biệt với ngân sách của Nhà nớc, với vốn và kinh
phí đã đầu t cho các đơn vị kinh doanh hoặc sự nghiệp và với tài sản, tài nguyên
quốc gia càng cần đợc giám sát chặt chẽ theo hớng đúng pháp luật và có hiệu
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
quả. Chỉ có hoạt động kiểm toán trên cơ sở khoa học thực sự mới đáp ứng đợc
những yêu cầu thông tin cho những quyết sách của Nhà nớc và kế toán mới trở
thành cái nền vững chắc cho cả sự can thiệp trực tiếp lẫn quản lí gián tiếp của
Nhà nớc.
- Các nhà đầu t cần có tài liệu tin cậy để trớc hết có hớng đầu t đúng đắn, sau đó
có điều hành sử dụng vốn đầu t và cuối cùng có tài liệu trung thực về phân phối
kết quả đầu t. Trong cơ chế thị trờng, do tính đa phơng hoá đầu t và đa dạng hoá
các thành phần kinh tế nên không chỉ có các nhà đầu t trong nớc mà còn có các
nhà đầu t nớc ngoài. Để thu hút vốn của các nhà đầu t và tạo cơ hội thuận lợi
cho việc sử dụng hợp lí mọi nguồn đầu t, cần có những thông tin trung thực và
khách quan về tình hình tài chính trớc hết và chủ yếu thông qua kiểm toán toàn
bộ các bảng khai tài chính về tài sản, thu nhập cùng các bảng thuyết minh kèm
theo.
- Các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lí khác cần thông tin trung thực
không chỉ trên các bảng khai tài chính mà còn thông tin cụ thể về tài chính, về
hiệu quả và hiệu năng của mỗi bộ phận để có những quyết định trong mọi giai
đoạn quản lí kể cả tiếp nhận vốn, chỉ đạo và điều chỉnh các hoạt động kinh
doanh và hoạt động quản lí Những thông tin đó chỉ có đợc thông qua hoạt
động kiểm tnnoán khoa học.
- Ngời lao động cũng cần có thông tin đáng tin cậy về kết quả kinh doanh, về
phân phối, về thực hiện chính sách tiền lơng và bảo hiểm Nhu cầu đó chỉ có
thể đáp ứng thông qua hệ thống kiểm toán tài chính.
- Khách hàng, nhà cung cấp và những ngời quan tâm khác cũng cần hiểu rõ thực
chất về kinh doanh và về tài chính của các đơn vị kiểm toán về nhiều mặt: số l-
ợng và chất lợng sản phẩm hàng hoá, cơ cấu tài sản và khả năng thanh toán,
hiệu năng và hiệu quả các bộ phận cung ứng, tiêu thụ hoặc sản xuất ở đơn vị
kiểm toán.
Kiểm toán mang lại cho họ niềm tin vào những xác minh độc lập và khách quan.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thứ hai, kiểm toán góp phần hớng dẫn nghiệp vụ và củng cố nền nếp hoạt
động tài chính kế toán nói riêng và hoạt động của đơn vị kiểm toán nói chung. Mọi
hoạt động, đặc biệt là hoạt động tài chính, đều bao gồm những mối quan hệ đa
dạng, luôn biến đổi và đợc cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể. Để hớng các
nghiệp vụ này vào mục tiêu giải quyết tốt các quan hệ trên, không chỉ cần có định
hớng đúng và thực hiện tốt mà còn cần thờng xuyên kiểm soát việc thực hiện để h-
ớng các nghiệp vụ vào quỹ đạo mong muốn. Hơn nữa, chính định hớng và tổ chức
thực hiện cũng chỉ đợc thực hiện tốt trên cơ sở những bài học thực tiễn. Đặc biệt n-
ớc ta đang trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế trong đó các quan hệ tài
chính, chế độ kế toán thay đổi nhiều lần cùng với sự bung ra của các thành phần
kinh tế và các hoạt động kinh doanh khác nhau ở các tổ chức kinh tế xã hội. Trong
khi đó, công tác kiểm tra, kiểm soát cha chuyển hớng kịp thời, dẫn tới tình trạng kỉ
cơng bị buông lỏng, phá vỡ, nhiều tổ chức kế toán và đơn vị kinh doanh ngoài quốc
doanh không làm kế toán Thực tiễn đó nảy sinh quan điểm cho rằng cha thể tiến
hành cải cách công tác kiểm tra trong khi cha triển khai toàn diện và rộng khắp
công tác kế toán. Tuy nhiên kinh nghiệm thực tế đã chỉ rõ, chỉ có triển khai tốt hơn
công tác kiểm toán mới có thể nhanh chóng da công tác tài chính kế toán đi vào
nền nếp.
Thứ ba, kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lí. Kiểm
toán không chỉ có chức năng xác minh mà còn có chức năng t vấn. Chức năng này
phát huy tác dụng rất lớn trong các đơn vị đợc kiểm toán thờng xuyên. Trong điều
kiện đó, việc tích luỹ kinh nghiệm qua thực tiễn sẽ là cơ sở cho những bài học tơng
lai. Đặc biệt trong điều kiện mới chuyển đổi cơ chế kinh tế, hệ thống pháp lí cha
hoàn chỉnh, kinh nghiệm và chuyên gia giỏi về quản lí cha có nhiều.Trong điều
kiện đó, duy trì kỉ cơng và bảo đảm phát triển đúng hớng và chỉ có thể có đợc trên
cơ sở xây dựng đồng bộ và tổ chức thực hiện tốt kiểm toán trên mọi lĩnh vực để
trên cơ sở tích luỹ kinh nghiệm từ xác minh đi đến t vấn cho mọi lĩnh vực hoạt
động.
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
3. Phân loại kiểm toán:
Kiểm toán có thể đợc phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau tuỳ mục đích
nghiên cứu:
- Theo đối tợng cụ thể, kiểm toán có thể phân thành kiểm toán báo cáo tài chính,
kiểm toán nghiệp vụ và kiểm toán liên kết.
- Theo lĩnh vực cụ thể của kiểm toán, có thể phân thành kiểm toán thông tin,
kiểm toán quy tắc, kiểm toán hiệu năng và kiểm toán hiệu quả. Theo phơng
pháp áp dụng trong kiểm toán, có kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài chứng
từ.
- Theo quan hệ giữa chủ thể và khách thể kiểm toán có thể phân kiểm toán thành
kiểm toán nội kiểm và kiểm toán ngoại kiểm.
- Theo phạm vi tiến hành kiểm toán, có thể phân thành kiểm toán toàn diện và
kiểm toán chọn điểm.
- Theo tính chu kì của kiểm toán, có thể phân thành kiểm toán thờng kì , kiểm
toán định kì và kiểm toán bất thờng.
- Theo quan hệ về thời điểm kiểm toán với thời điểm thực hiện nghiệp vụ, kiểm
toán bao gồm kiểm toán trớc, kiểm toán hiện hành và kiểm toán sau.
- Theo cách tổ chức bộ máy kiểm toán, có thể phân kiểm toán thành kiểm toán bộ
máy nhà nớc, kiểm toán độc lập và kiểm toán nội bộ.
- Theo quan hệ pháp lí của kiểm toán, có kiểm toán bắt buộc và kiểm toán tự
nguyện.
- Theo bản chất của khách thể kiểm toán, có kiểm toán doanh nghiệp., kiểm toán
dự án và các công trình, kiểm toán các đơn vị dự toán
Chúng ta có thể đi sâu phân tích kiểm toán theo nhiều cách khác nhau nh trên.
Nhng trong phạm vi chuyên đề này chỉ xem xét kiểm toán dới dạng phân chia theo
tiêu thức tổ chức bộ máy kiểm toán, cụ thể là đi sâu phân tích kiểm toán Nhà nớc
và tình hình phát triển của hoạt động này ở Việt Nam. Thực ra hoạt động kiểm toán
nói riêng và hoạt động kiểm toán Nhà nớc nói chung còn khá là mới mẻ nớc ta.
Chính vì vậy mà mục đích của chuyên đề chỉ là giúp mọi ngời hiểu rõ hơn về hoạt
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
động kiểm toán Nhà nớc và hớng phát triển của hoạt động này ở nớc ta. Theo cách
phân chia nh trên thì ta đi sâu vào tìm hiểu từng loại kiểm toán.
Kiểm toán nội bộ (Internal Audit):
Đây là loại kiêm toán do các kiểm toán viên nội bộ của đơn vị tiến hành.
Do mục tiêu đợc giới hạn trong phạm vi nội bộ đơn vị nên thờng chỉ bao gồm
những kiểm toán viên nội bộ. Về phạm vi của kiểm toán nội bộ, trong thời kì đầu
cũng giới hạn ở kiểm tra chất lợng thông tin kế toán tài chính, về sau mới phát triển
sang những lĩnh vực khác của quản lí: "kiểm tra và đánh giá tính hiệu lực và hiệu
quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ cũng nh chất lợng thực thi
trong nhng trách nhiệm đợc giao.
Trên thực tế, phạm vi của kiểm toán nội bộ rất biến động và tuỳ thuộc vào quy
mô cơ cấu của doanh nghiệp cũng nh yêu cầu của các nhà quản lí doanh nghiệp.
Tuy nhiên, thông thờng kiểm toán nội bộ hoạt động trong một vài lĩnh vực sau:
- Rà soát lại hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan, giám
sát sự hoạt động của các hệ thống này cũng nh tham gia hoàn thiện chúng.
- Kiểm tra lại các thông tin tác nghiệp và thông tin tài chính, bao gồm việc soát
xét lại các phơng tiện đã sử dụng để xác định tính toán, phân loại và báo cáo
những thông tin này, thẩm định cụ thể các khoản mục cá biệt (kiểm tra chi tiết
các nghiệp vụ, các số d và các bớc công việc).
- Kiểm tra tính kinh tế, tính hữu hiệu và hiệu quả của các hoạt động, kể cả các
quy định không có tính chất tài chính của đơn vị.
Bên cạnh đó các kiểm toán viên nội bộ cũng tiến hành các cuộc kiểm toán
tuân thủ để xem xét việc chấp hành các chính sách, quy định của đơn vị. Tuy đợc
tổ chức độc lập với bộ phận đợc kiểm tra, nhng kiểm toán nội bộ là một bộ phận
của đơn vị nên không thể hoàn toàn độc lập với đơn vị đợc. Vì vậy, các báo cáo của
kiểm toán nội bộ đợc chủ doanh nghiệp rất tin tởng nhng ít có giá trị pháp lí.
Kiểm toán độc lập (Independent Audit):
Kiểm toán độc lập là loại kiểm toán đợc tiến hành bởi các kiểm toán viên
độc lập thuộc các công ty, các văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp. Kiểm toán độc
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
lập là loại hoạt động dịch vụ t vấn đợc pháp luật thừa nhận và bảo hộ, đợc quản lí
chặt chẽ bởi các hiệp hội chuyên ngành về kiểm toán. Các kiểm toán viên độc lập
là đội ngũ hành nghề chuuyên nghiệp, có kĩ năng nghề nghiệp và đạo đức, phải trải
qua các kì thi quốc gia và phải đạt đợc các tiêu chuẩn nhất định về bằng cấp và
kinh nghiệm. Kiểm toán độc lập là hoạt động đặc trng của kinh tế thị trờng, thực
hiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo yêu cầu của khách hàng. Kiểm toán viên
độc lập chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán báo cáo tài chính. Ngoài ra,
tuỳ theo yêu cầu của khách hàng, kiểm toán viên độc lập còn có thể thực hiện kiểm
toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ hoặc tiến hành các dịch vụ t vấn tài chính kế
toán khác.
Tại các nớc có nền kinh tế thị trờng phát triển, dịch vụ kiểm toán độc lập rất
phỏ biến, vì vậy khái niện kiểm toán thờng đợc dùng nh kiểm toán độc lập. Hiện
nay, thế mạnh của kiểm toán độc lập đã đợc thể hiện ở các công ty kiểm toán có
quy mô lớn quốc gia và xuyên quốc gia.
Kiểm toán Nhà nớc (Government Audit):
Là công việc kiểm toán do các cơ quan quản lí chức năng của Nhà nớc (tài
chính, thuế ) và cơ quan kiểm toán Nhà nớc tiến hành theo luật định. Kiểm toán
Nhà nớc thờng tiến hành các cuộc kiểm toán tuân thủ, xem xét việc chấp hành các
chính sách, luật lệ và chế độ của Nhà nớc, đánh giá hiệu quả hoạt động tại các đơn
vị sử dụng vốn và kinh phí của Nhà nớc.
Về mô hình tổ chức, cơ quan kiểm toán có thể trực thuộc Chính phủ, Quốc hội
hoặc Toà án tuỳ từng quốc gia. ở nớc ta, kiểm toán Nhà nớc đợc thành lập theo
nghị định 70/CP ngày 11/7/1994 của Chính phủ để giúp Thủ tớng chính phủ thực
hiện chức năng kiểm tra xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu kế
toán, báo cáo quyết toán của các cơ quan Nhà nớc, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị
kinh tế Nhà nớc và các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí
do ngân sách Nhà nớc cấp. Kiểm toán Nhà nớc thực hiện kiểm toán báo cáo quyết
toán ngân sách của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ơng trớc khi trình ra Hội đồng
Nhân dân và tổng quyết toán ngân sách Nhà nớc của Chính phủ trớc khi trình Quốc
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hội. Kiểm toán Nhà nớc cũng kiểm toán báo cáo quyết toán của các Bộ, cơ quan
thuộc Quốc hội, Toà án Nhân dân, Viện kiểm soát Nhân dân, các đơn vị sự nghiệp
công, các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội có sử dụng kinh phí Nhà nớc,
báo cáo quyết toán của các chơng trình, các dự án, các công trình đầu t của Nhà n-
ớc và các doanh nghiệp Nhà nớc Công việc kiểm toán Nhà nớc đợc tiến hành theo
kế hoạch kiểm toán hàng năm đợc Thủ tớng chính phủ phê duyệt và các nhiệm vụ
đột xuất do thủ tớng giao hoặc do cơ quan Nhà nớc có thẩm quyền yêu cầu.
Thông qua hoạt động trên, kiểm toán Nhà nớc sẽ nhận xét đánh giávà xác
nhận việc chấp hành các chính sách, chế độ tài chính, kế toán ở các đơn vị . Đồng
thời, kiểm toán Nhà nớc còn có quyền góp ý với các đơn vị đợc kiểm toán sửa chữa
những sai phạm và kiến nghị với cấp có thẩm quyền xử lí các vi phạm, đề xuất với
Thủ tớng chính phủ sửa đổi cải tiến cơ chế quản lí tài chính kế toán cần thiết. Cơ
cấu tổ chức bộ máy cơ quan kiểm toán Nhà nớc gồm:
- Kiểm toán NSNN .
- Kiểm toán đầu t XDCB và các chơng trình, dự án, vay nợ, viện trợ Chính phủ.
- Kiểm toán doanh nghiệp Nhà nớc .
- Kiểm toán chơng trình đặc biệt (an ninh quốc phòng, dự trữ quốc gia )
- Văn phòng kiểm toán Nhà nớc.
Phần ii. Thực trạng của hoạt động kiểm
toán Nhà nớc.
1. thực trạng hoạt động kiểm toán Nhà nớc.
1.1. Những kết quả đã đạt đ ợc
Cách đây 7 năm ngày 11/7/1994, kiểm toán nhà nớc (KTNN) chính thức đợc
thành lập trên cơ sở Nghị định 70/CP của chính phủ và là cơ quan tài chính công
của nớc Cộng hòa XHCN Việt Nam, thực hiện việc kiểm toán đối với các cơ quan
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét