Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

72700

thơng mại là đơn vị duy nhất đợc phép mở tài khoản tiền gửi không kì hạn cho
công chúng. Hiện nay, Ngân hàng thơng mại đợc xem nh một ngân hàng trung
gian mà tỉ lệ vốn cho vay vào mục đích thơng mại và công nghiệp chiếm tỉ trọng
lớn trong tổng số tài sản có của nó.
Ngân hàng thơng mại có thể tồn tại ở nhiều dạng sở hữu khác nhau: có thể
đợc thành lập bằng 100% vốn của t nhân, 100% vốn của Nhà nớc hoặc hùn vốn
giữa t nhân với nhà nớc hoặc với ngời nớc ngoài.
1.2- Chức năng của Ngân hàng thơng mại.
a) Chức năng trung gian tín dụng.
Đây là chức năng đặc trng và cơ bản nhất của Ngân hàng thơng mại. Trung
gian tài chính là hoạt động cầu nối giữa cung và cầu vốn trong xã hội. Do quan hệ
tín dụng trực tiếp giữa các chủ thể thừa vốn và các chủ thể thiếu vốn gặp nhiều khó
khăn nên hoạt động tín dụng của Ngân hàng thơng mại đã ra đời, góp phần khắc
phục các khó khăn, hạn chế đó.
Để thực hiện chức năng này, một mặt Ngân hàng thơng mại huy động và tập
trung các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để cho
những ngời thiếu vốn vay để sản xuất kinh doanh. Ngân hàng thơng mại với vai trò
là trung gian tín dụng đứng ra tập trung và phân phối lại nguồn vốn, điều hoà cung
và cầu vốn trong nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp đợc tiến hành liên tục, động viên vật t hàng hoá đa vào sản xuất lu
thông, thúc đẩy tiến bộ kĩ thuật và đẩy nhanh quá trình tái sản xuất. Tín dụng ngân
hàng là nơi tập trung đại bộ phận vốn nhàn rỗi, là trung tâm đáp ứng nhu cầu vốn
bổ sung cho đầu t phát triển.
Ngay từ lúc hình thành, Ngân hàng thơng mại đã có chức năng này. Thông
qua đó, ngân hàng thực hiện chức năng xây dựng của mình, làm cho sản phẩm xã
hội đợc tăng lên, vốn đầu t đợc mở rộng, từ đó góp phần thúc đẩy sự tăng trởng
kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân. Chức năng này phản ánh bản chất của ngân
5
hàng thơng mại là đi vay để cho vay, nó quyết định sự duy trì và phát triển của
ngân hàng đồng thời cũng là cơ sở để thực hiện các chức năng sau.

b)Chức năng trung gian thanh toán.
Với chức năng này, ngân hàng đóng vai trò là ngời thủ quỹ cho các doanh
nghiệp và cá nhân bở ngân hàng là ngời giữ tài khoản của khách hàng, chi tiền hộ
cho khách hàng. Khi kinh tế càng phát triển, việc thanh toán qua ngân hàng càng
đợc mở rộng. Ngân hàng thực hiện chức năng này trên cơ sở chức năng trung gian
tín dụng, bởi vì thông qua việc nhận tiền gửi, ngân hàng đã mở cho khách hàng tài
khoản tiền gửi để theo dõi các khoản thu, chi. Sở dĩ các cá nhân, tổ chức muốn
ngân hàng thực hiện những công việc này cho họ là vì việc thanh toán trực tiếp
bằng tiền mặt giữa các chủ thể kinh tế có nhiều hạn chế nh rủi ro do vận chuyển
tiền, chi phí thanh toán lớn Đặc biệt đối với những khách hàng ở xa thì nhu cầu
nhờ ngân hàng thanh toán hộ càng cao.
Với chức năng này, ngân hàng thơng mại sẽ cung cấp cho khách hàng
những công cụ thanh toán thuận lợi nh séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thẻ tín
dụng Nhờ thế các chủ thể kinh tế tiết kiệm đợc rất nhiều chi phí lao động, thời
gian lại đảm bảo đợc thanh toán an toàn. Do đó, chức năng này thúc đẩy lu thông
hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh toán và tốc độ lu chuyển vốn, góp phần tăng tr-
ởng kinh tế. Hơn nữa, việc thanh toán qua hệ thống ngân hàng không dùng tiền
mặt đã làm giảm lợng tiền mặt trong lu thông và tiết kiệm chi phí khác nh in ấn,
đếm nhận Đối với các ngân hàng thơng mại, chức năng này góp phần tăng thêm
lợi nhuận cho ngân hàng thông qua việc thu lệ phí thanh toán đồng thời làm tăng
nguồn vốn cho vay của ngân hàng thể hiện số d có tài khoản tiền gửi của khách
hàng. Chức năng này là cơ sở để hình thành chức năng tạo tiền của ngân hàng th-
ơng mại.

6
c.Chức năng tạo tiền.
Chức năng này đợc thực hiện dựa trên nguyên tắc nếu các ngân hàng thực
hiện việc cho vay và thanh toán bằng chuyển khoản thì hệ thống ngân hàng sẽ tạo
ra một lợng tiền gửi mới làm cho tổng cung ứng tiền của nền kinh tế tăng lên.
Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy
động đợc để cho vay. Khách hàng sử dụng số tiền cho vay để mua hàng hoá, thanh
toán dịch vụ trong khi số d trên tài khoản tiền gửi thanh toán của họ vẫn đợc coi là
một bộ phận của tiền giao dịch. Để thực hiện chức năng này, ngân hàng thơng mại
phải làm đợc chức năng trung gian thanh toán, mở tài khoản tiền gửi thanh toán
cho khách hàng thì số tiền trên tài khoản này mới coi là một bộ phận của lợng tiền
giao dịch.
Tuy nhiên, các ngân hàng thơng mại không thể tạo tiền một cách tuỳ ý, mà
thực tế, khả năng tạo tiền còn bị giới hạn bởi tỉ lệ dự trữ d thừa và tỉ lệ rút tiền của
công chúng so voứi lợng tiền gửi thanh toán.
Với chức năng này, hệ thống ngân hàng thơng mại đã làm tăng phơng tiện
thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả xã hội. Chức
năng nàycũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lu thông tiền tệ. Một
khối lợng tín dụng mà ngân hàng thơng mại cho vay làm tăng khả năng tạo tiền
của nó, từ đó lợng tiền cung ứng cũng tăng thêm.
* Mối quan hệ giữa các chức năng.
Các chức năng có quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Trong đó,
chức năng trung gian tín dụng là cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức
năng sau. Đồng thời, khi ngân hàng thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán
và chức năng tạo tiền lại góp phần làm tăng nguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt
động tín dụng.
7
1.3- Vai trò của ngân hàng thơng mại.
Ngân hàng thơng mại có đối tợng đầu t rộng rãi và có vai trò vô cùng quan
trọng trong nền kinh tế. Trớc hết, ngân hàng thơng mại với ba chức năng là công
cụ quan trọng thúc đẩy sự phát triển của sản xuất kinh doanh và lu thông hàng hoá.
Nhờ có chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng đã huy động dợc số vốn nhàn rỗi
trong xã hội đem cho vay dới các hình thức khác nhau, đáp ứng nhu cầu vốn trong
xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển. Các ngân hàng thơng mại đã thực sự huy động
đợc sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế vào quá trình sản xuất, lu thông hàng hoá.
Còn chức năng trung gian thanh toán giúp cho ngân hàng thực hiện việc thanh toán
giữa các chủ thể trong nền kinh tế một cách nhanh chóng, tiết kiệm. Đồng thời
ngân hàng cũng giám sát đợc các hoạt động kinh tế góp phần tạo ra môi trờng kinh
doanh lành mạnh, tiến bộ, tạo sự ổn định trong đời sống kinh tế xã hội. Với chức
năng tạo tiền, ngân hàng thơng mại là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của
Ngân hàng Trung Ương. Ngân hàng thơng mại tạo ra khối lợng phơng tiện thanh
toán rất lớn cho nền kinh tế. Các công cụ của chính sách tiền tệ đợc thực hiện có
hiệu quả với sự hợp tác tích cực của các ngân hàng thơng mại thông qua việc chấp
hành quy định dự trữ bắt buộc, quy chế thanh toán không dùng tiền mặt và việc
tăng cờng hiệu quả cho vay và đầu t.
Tuy các ngân hàng thơng mại đều có chức năng và vai trò nh nhau nhng ở
mỗi nơi, hoạt động của ngân hàng thơng mại lại có các hình thức khác nhau. Vậy
ở Việt Nam, ngân hàng thơng mại hoạt động nh thế nào?

2- Ngân hàng thơng mại Việt Nam.
Trớc đây, do đất nớc bị đô hộ nên nền kinh tế nớc ta bị kìm kẹp trăm bề.
Ngân hàng Đông Dơng đợc xây dựng để phục vụ cho lợi ích của quân Pháp xâm l-
ợc. Vì thế, đại đa số nhân dân không thể trông chờ gì ở các chính sách của ngân
hàng mà ngợc lại, việc phát hành tiền tuỳ tiện lại càng gây khó khăn cho ngời dân.
8
Từ năm 1947, hệ thống tín dụng của nớc Việt Nam dân chủ cộng hoà bắt
đầu đợc xây dựng và đi vào hoạt động. Nhiệm vụ đầu tiên của nó là góp vốn cho
nhân dân phát triển sản xuất công nghiệp và nông nghiệp, làm giảm tình trạng cho
vay nặng lãi Vốn hoạt động dựa vào ngân sách Nhà nớc.
Năm 1951, chính phủ ra sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia
Việt Nam nhằm thực hiện chức năng quản lí Nhà nớc về tiền tệ, tín dụng, ngoại
hối Đây là ngân hàng đầu tiên thực sự là của nhân dân, phục vụ cho lợi ích của
nhân dân. Ngân hàng quốc gia Việt Nam đợc tổ chức theo quy mô lớn, quản lý
hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc tập trung thống nhất, giữ vị trí trụ cột trong
hệ thống tiền tệ, tín dụng của nớc ta. Ngân hàng quốc gia Việt Nam đã từng bớc tr-
ởng thành, lớn mạnh. Hoạt động của ngân hàng đã góp phần đáng kể trong xây
dựng, củng cố và hoàn thiện hệ thống tiền tệ, tín dụng, thích ứng với yêu cầu của
từng thời kì phát triển, phát huy vai trò là công cụ có hiệu lực của Đảng và Nhà nớc
trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế.
Tiếp theo sự ra đời của Ngân hàng quốc gia là sự ra đời của hàng loạt ngân
hàng mới dới sự kiểm soát của nó. Những ngân hàng này hoạt động dựa trên ba
chức năng của ngân hàng thơng mại, thực hiện những nhiệm vụ dới sự chỉ đạo của
Ngân hàng quốc gia góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Ngân hàng thơng mại từ lúc ra đời đến nay đã đóng vai trò vô cùng quan
trọng trong nền kinh tế. Các ngân hàng thơng mại Việt Nam với nhiều hoạt động
đa dạng, phong phú đã đóng góp ngày càng nhiều vào nền kinh tế, giúp cho kinh tế
đất nớc có nhiều bớc tiến đáng kể. Trong đó, điển hình phải kể đến hoạt động tín
dụng của ngân hàng thơng mại. Đây là một hoạt động phức tạp, đòi hỏi phải đợc
thờng xuyên cập nhật theo những chuyển biến của môi trờng kinh tế. Nhng nếu
thực hiện tốt, hoạt động này sẽ đem lại lợi ích rất lớn cho nền kinh tế đất nớc.
Ngân hàng thơng mại Việt Nam với hoạt động tín dụng của nó trong thời gian qua
đã đạt đợc nhiều thành tựu quan trọng, song cũng không thể trành khỏi những khó
khăn, hạn chế cần khắc phục. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải đánh giá một cách đúng
9
đắn những mặt tốt để phát huy và những điểm yếu để tìm ra phơng hớng sửa chữa.
Có thế mới giúp đợc cho hoạt động tín dụng phát triển đầy đủ lợi ích của nó, góp
phần ngày càng nâng cao chất lợng của ngân hàng thơng mại đối với nền kinh tế n-
ớc ta.
II- Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng th-
ơng mại Việt Nam.
1- Tình hình hoạt động.
Từ khi thành lập, ngân hàng nhà nớc đã thực hiện chức năng cải tiến và mở
rộng tín dụng bằng cách thực hiện cho vay vốn lu động và vay vốn đầu t xây dựng
cơ bản, tổ chức mở rộng cho vay. Ngoài ra, ngân hàng còn tiến hành cho vay tiền
cũ, phát hành tiền mới nhằm thống nhất hệ thống tiền tệ trong cả nớc, thúc đẩy kế
hoạch hoá tổ chức sản xuất, phân công mới lao động xã hội.
Mới đầu, trong hệ thống ngân hàng thơng mại chỉ có ngân hàng đầu t và xây
dựng đợc cho vay dài hạn. Các ngân hàng khác chủ yếu là cho vay ngắn hạn để
phụ vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Nguyên tắc có hiệu quả và phải đợc
hoàn trả là đảm bảo cho việc kinh doanh của ngân hàng và có tác động tích cực
đến việc củng cố hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa của các đơn vị kinh tế.
Tuy nhiên, có một khoảng thời gian dài các ngân hàng thơng mại không cho vay
dài hạn bởi vì thiếu các công cụ để quản lý rủi ro nảy sinh. Không những thế, cho
vay dài hạn còn dẫn đến tình trạng thiếu nguồn vốn lâu dài và khó huy động vốn.
Để thực hiện các nghiệp vụ dài hạn, ngân hàng thơng mại để cho các tổ chức
chuyên ngành nh Ngân hàng Đầu t và Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn đợc tự do hoạt động với các nguồn vốn vay chủ yếu qua phát
hành trái phiếu và tài trợ cho đầu t qua huy động tiết kiệm gián tiếp. Các ngân
hàng này có những nhiệm vụ khác nhau nhng chủ yếu là củng cố và phát triển các
ngàng kinh tế, từ công nghiệp đến nông nghiệp. Từ lúc ra đời, các ngân hàng này
10
đã hoạt động hết sức tích cực, thực hiện cho vay vốn đối với các cá nhân, tổ chức
trên toàn quốc. Đồng thời, nó cũng thực hiện đúng các chủ trơng, chính sách cho
Nhà nớc và luôn hoạt động dới sự kiểm soát, quản lý của Nhà nớc và của Ngân
hàng Trung Ương.
Nhu cầu tài trợ cho đầu t nếu không đợc sự trợ giúp của hệ thống ngân hàng
thì sẽ không thể nào thoả mãn đợc. Vì vậy, các ngân hàng thơng mại luôn cố gắng
tìm các thể thức phù hợp và không ngừng mở rộng các khoản cho vay trung hạn và
dài hạn để tiếp tục đổi mới hoạt động tín dụng của mình.
Cho đến hết năm 1994, một loạt thị trờng mới ra đời hoạt động qua hệ thống
ngân hàng thơng mại dới sự quản lý của Nhà nớc và tạo ra công cụ gián tiếp giúp
ngân hàng Nhà nớc điều hành chính sách tiền tệ theo tín hiệu thị trờng. Đó là
những thị trờng nh thị trờng tiền gửi, thị trờng tín phiếu kho bạc, thị trờng nội tệ
liên ngân hàng Từ đó đến nay, nhiều hình thức huy động vốn mới đợc áp dụng
để tạo ra nguồn vốn trung hoặc dài hạn nh phát hành trái phiếu ngân hàng thơng
mại, phát triển việc thanh toán thông qua hệ thống ngân hàng làm cho hoạt động
tín dụng tăng cả về số lợng và loại hình. Khối lợng tín dụng của hệ thống thơng
mại hiện nay đã tăng gấp 4-5 lần so với những năm đầu đổi mới, đáp ứng một
nguồn vốn lớn cho sự tăng trởng kinh tế. Các ngân hàng thơng mại không chỉ cho
vay mà còn mở nhiều dịch vụ khác để phục vụ khách hàng nh thuê mua, chiết khấu
thơng phiếu, t vấn đầu t
Chiết khấu thơng phiếu giữ một vị trí then chốt trong các nghiệp vụ của
ngân hàng thơng mại. Ngân hàng ứng trớc trị giá của một thơng phiếu cha đến hạn
và đổi lại, ngân hàng nắm quyền sở hữu thơng phiếu đó. Ngân hàng đợc trả lại
khoản đã ứng trớc đây bằng cách truy đòi khi thơng phiếu đến hạn. Đầu năm 2000,
pháp lệnh thơng phiếu đợc ban hành. Tuy nhiên, pháp lệnh này cha có văn bản h-
ớng dẫn thực hiện nên tính chất của chiết khấu thơng phiếu vẫn cha đợc sử dụng có
hiệu quả.
11
Hoạt động của hệ thống ngân hàng thơng mại thờng xuyên đợc Ngân hàng
Nhà nớc điều chỉnh, quản lý và luôn hớng cho hệ thống này ngày càng phát triển
hơn nữa để hội nhập vào thị trờng ngân hàng quốc tế, mở rộng hoạt động của hệ
thống ngân hàng thơng mại. Hệ thống ngân hàng thơng mại đã đợc ngân hàng nhà
nớc đầu t và xây dựng, tạo lập cơ sở vật chất, kĩ thuật tiên tiến và hiện đại, nhằm
hiện đại hoá hệ thống ngân hàng thơng mại. Kết quả, năm 1993, hệ thống ngân
hàng thơng mại Việt Nam đã đợc trang bị những thành tựu của khoa học kĩ thuật.
Hệ thống máy vi tính hiện đại đã lần lợt đợc đa vào sử dụng trong ngân hàng để
thu thập, xử lý, khai thác, truyền dẫn, lu trữ thông tin, dữ liệu. Nhiều phần mềm
ứng dụng do các ngân hàng tự thiết lập đã đợc sử dụng có hiệu quả. Nhờ có sự thay
đổi to lớn này mà hoạt động tín dụng của ngân hàng thơng mại ngày càng phát
triển mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế. Sự thay đổi trong hoạt động tín dụng
thể hiện ở:
- Hệ thống thanh toán chuyển tiền điện tử trong cả nớc và thanh toán bù trừ
qua máy vi tính giúp cho việc lu thông tiền mặt đợc hạn chế. Nhờ vậy bảo đảm đợc
an toàn khi vận chuyển, tiết kiệm chi phí giao dịch và đặc biệt là duy trì đợc nguồn
vốn lớn để cho vay.
- áp dụng công nghệ mới trong thanh toán, nhất là việc áp dụng các loại thẻ
tín dụng quốc tế nh Master Card, Visa. JCB với doanh số gần 100 triệu USD
mỗi năm.
- Hệ thống vi tính trong thị trờng liên ngân hàng, thị trờng đấu giá tín phiếu
kho bạc, thị trờng mua bán ngoại tệ đã xử lý kịp thời các giao dịch kinh doanh trên
các lĩnh vực này.
- Việc mở rộng dịch vụ ngân hàng trong dân c, đặc biệt là công tác thanh toán
không dùng tiền mặt thông qua các công cụ: ngân phiếu thanh toán, séc cá nhân,
thẻ tín dụng đã đợc thực hiện ngày càng có hiệu quả. Cuối năm 1995 đã có hơn
30000 tài khoản các nhân đợc mở tại các ngân hàng và kho bạc, tăng tổng số d lên
12
tới trên 700 tỷ VNĐ, doanh số thanh toán qua tài khoản cá nhân lên tới hàng nghìn
tỷ VNĐ.
Song song với việc cải tạo và nâng cấp cơ sở vật chất, ngân hàng thơng mại
còn đào tạo, bồi dỡng đội ngũ cán bộ làm công tác tín dụng nhằm trang bị cho họ
những kiến thức phù hợp, giúp họ cập nhật đợc những thông tin về nghiệp vụ.
Đồng thời, hàng ngàn ngời còn đợc cử đi học tập, bồi dỡng ở nớc ngoài, đi khảo sát
ở các ngân hàng trên thế giới về hoạt động tín dụng. Công việc này góp phần
không nhỏ trong việc nâng cao chất lợng tín dụng của ngân hàng thơng mại Việt
Nam phát triển mạnh cả về phạm vi lẫn quy mô. Ngân hàng thơng mại không
ngừng cung cấp các dịch vụ mới làm cho hoạt động tín dụng trở nên phong phú
đáp ứng nhu cầu của đông đảo dân chúng. Ngân hàng một mặt đa ra nhiều loại
hình tiết kiệm mới với các mức lãi suất và kì hạn khác nhau với mục đích thu hút
những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong dân c, huy động vốn cho sản xuất kinh
doanh. Mặt khác, sử dụng số vốn huy động đợc đem đầu t cho các doanh nghiệp,
hộ gia đình làm kinh tế, phát triển sản xuất. Từ việc bị động, trông chờ vào sự tự
giác của dan chúng, ngân hàng thơng mại đã chủ động tìm đến những ngời thừa
vốn và ngời thiếu vốn nhằm đem lại nguồn lợi ích cho chính những ngời này. Hoạt
động tín dụng đợc phát triển rộng rãi khắp các vúng trong cả nớc, từ thành thị đến
nông thôn, đến cả những vùng miền núi xa xôi, ở đâu cán bộ tín dụng cũng có mặt.
Do quán triệt các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, các chủ trơng của Chính phủ về
phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn, vùng sâu vùng xa, hệ thống ngân hàng
đã đầu t hàng chục tỷ đồng vào lĩnh vực này. Bên cạnh đó, ngân hàng còn cho vay
phục cụ các đối tợng chính sách và chơng trình phát triễn kinh tế của Chính phủ đã
mang laị hiệu quả rõ rệt về mặt xã hội,thông qua các chơng trình nh: cho vay khắc
phục hậu quả cơn bão số 5, cho vay tôn nền và làm sàn nhà trên cọc, chơng trình
một triệu tấn đờng, chơng trình đánh bắt cá xa bờ
Chất lợng tín dụng đợc nâng cao tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế
đều có thể vay vốn để sản xuất, kinh doanh bằng nhiều cách. Ngân hàng thơng mại
13
có thể cho vay bằng nhiều hình thức nh vay thế chấp, vay vốn có bảo lãnh Nhờ
đó mà mọi ngời dân, đặc biệt là những ngời nghèo đều có thể vay vốn để sản xuất,
phát triển kinh tế.
Hoạt động tín dụng mở rộng đòi hỏi phải nắm đợc các thông tin tín dụng
nhằm đảm bảo an toàn cho ngân hàng khi cho vay. Theo quy chế hoạt động thông
tin tín dụng trong ngành ngân hàng do thống đốc ban hành tại quyết định số
415/1999/QD NHNH23 ngày 18/11/1999 thì các tổ chức tín dụng nhất thiết phải
thu thập mọi thông tin co liên quan đến khách hàng để cung cấp cho trung tâm
thông tin tín dụng Ngân hàng Nhà nớc (CIC) một cách chính xác, đầy đủ. Việc này
giúp cho ngân hàng quyết định có nên cho vay hay không, vay nhiều hay ít, thời
gian bao lâu đồng thời đảm bảo cho hoạt động tín dụng đ ợc phát huy một cách
có hiệu quả nhất .
Hệ thống ngân hàng thơng mại Việt Nam dần dần đã lập đợc quan hệ với rất
nhiều tổ chức trên thế giới . Nhờ những mối quan hệ này mà càng học hỏi đợc
nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực, đặc biệt là trong hoạt động tín dụng. Đầu t
từ nớc ngoài ngày càng nhiều, việc này làm nguồn vốn tăng lên rõ rệt, giúp cho
ngân hàng thơng mại có thể cho vay nhiều hơn để đổi mới nền kinh tế.
2- Các thành tựu của hoạt động tín dụng trong hệ thống ngân hàng thơng
mại Việt Nam.
Từ khi ra đời cho đến nay, nhờ sự đóng góp không ngừng của hàng ngàn cán
bộ công nhân viên, dới sự lãnh đạo của Đảng, nhà nớc, ngân hàng Trung ơng và hệ
thống ngân hàng thơng mại, hoạt động tín dụng đã thu đợc nhiều thành tựu đáng
kể.
Một là: Đẩy mạnh huy động vốn và cho vay phục vụ cho sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Phát huy nội lực, tranh thủ tối đa nguồn lực bên
ngoài, giải phóng sức sản xuất, khuyến khích các thành phần kinh tế cùng phát
triển trong đó nhà nớc đóng vai trò chủ đạo. Góp phần tích cực vào công cuộc xoá
14

Xem chi tiết: 72700


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét