những người tiên phong nghiên cứu sinh sản nhân tạo loài này (tổng kết bởi New,
2000).
Hiện nay, tôm càng xanh đã đang phát triển ở nhiều quốc gia trên thế giới không có
tôm trong tự nhiên như: Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan, Israel, (Phạm Văn Tình,
2004a). Trung Quốc hiện đang dẫn đầu về sản lượng tôm càng xanh trên thế giới
với 128.338 tấn vào năm 2001 (New, 2005).
Ở nước ta, tôm càng xanh phân bố từ Nha Trang trở vào (Phạm Văn Tình 2004b)
nhưng phát triển thuận lợi nhất ở các tỉnh Nam Bộ, đặc biệt là Đồng Bằng Sông
Cửu Long (Nguyễn Việt Thắng, 1993), chỉ đứng thứ hai sau Trung Quốc với sản
lượng đạt 28.000 tấn năm 2001 (New, 2005). Mô hình nuôi tôm lúa đang được phổ
biến rộng rãi đạt 1.000 - 1.500 kg/ha/vụ. Việt Nam còn nhiều tiềm năng để phát
triển, nâng cao năng suất nuôi và khai thác đối tượng này.
2.2.3 Vòng đời của tôm càng xanh
TheoTrần Ngọc Hải và ctv (2000) thì vòng đời của tôm càng xanh gồm 4 giai
đoạn: trứng, ấu trùng, hậu ấu trùng và tôm trưởng thành. Giai đoạn trưởng thành
tôm sống chủ yếu ở nước ngọt nhưng đến khi thành thục tôm đẻ trứng và di cư ra
vùng cửa sông (6 - 18‰) để cho trứng nở. Cũng theoTrần Ngọc Hải và ctv (2000)
thì ấu trùng tôm càng xanh sống phù du và trải qua 11 lần biến thái để trở thành
hậu ấu trùng (postlarvae). Lúc này tôm có xu hướng tiến vào vùng nước ngọt để
sinh sống và phát triển đến khi trưởng thành. Khi trưởng thành chúng bắt đầu sinh
sản và di cư ra vùng nước lợ tiếp tục vòng đời của mình.
Hình 2.1: Vòng đời của tôm càng xanh
2.2.4 Tập tính ăn của tôm càng xanh
5
Về tập tính ăn, tôm càng xanh là loài ăn tạp thiên về động vật, mức chọn lựa không
cao, thành phần thức ăn không thay đổi theo giới tính.
Tôm càng xanh có hàm răng nghiền khỏe, ruột có cấu tạo ngắn nên khả năng tiêu
hóa nhanh. Chúng ăn hầu hết các loài động vật nhỏ, các mảnh vụn hữu cơ, thích
bắt mồi vào ban đêm hơn ban ngày (Phạm Văn Tình, 2004a).
Râu là cơ quan xúc giác giúp tôm tìm thức ăn, đôi chân ngực thứ nhất như một cái
kẹp giúp tôm giữ và đưa thức ăn vào miệng (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2002).
Trong quá trình lớn lên, tôm trải qua nhiều lần lột xác, chu kỳ lột xác thay đổi theo
tuổi, nhiệt độ, thức ăn, giới tính và điều kiện sinh lý của chúng (Nguyễn Thanh
Phương, 2003).
2.3 Đặc điểm sinh sản của tôm càng xanh
2.3.1 Phân biệt giới tính
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003), ta có thể phân biệt giới tính tôm càng
xanh thông qua hình dạng bên của chúng. Tôm càng xanh đực lớn hơn tôm càng
xanh cái, đầu ngực to hơn và khoang bụng hẹp hơn tôm càng xanh cái, đôi càng
thứ hai to dài và hơi thô hơn tôm càng xanh cái.
Ở tôm càng xanh đực có nhánh phụ đực mọc kế nhánh trong của chân bụng thứ
hai. Nhánh phụ đực xuất hiện ở giai đoạn ấu niên khi tôm đạt kích cỡ 30 mm và
hoàn chỉnh khi đạt kích cỡ 70 mm. Ngoài ra ở mặt của đốt bụng thứ nhất còn có
điểm cứng.
Tôm cái thường có kích cỡ nhỏ hơn tôm đực, phần đầu ngực nhỏ và đôi càng thon,
tôm có 3 tấm bụng đầu tiên rộng và tạo thành khoang làm buồng để ấp trứng. Quá
trình mở rộng của khoang bụng bắt khi tôm đạt chiều dài tổng 95 mm. Lổ sinh dục
của con cái nằm ở góc của chân ngực thứ 3. Trên các chân bụng của con cái có
nhiều lông tơ có tác dụng giúp trứng bám vào trong quá trình tôm đẻ và ấp trứng.
Cơ quan sinh dục trong của con đực ngoằn ngoèo nằm ở giữa của Carapace được
nối với ống dẫn tinh chạy trước tim và dọc hai bên viềng sau của Carapace, đỗ vào
mút nằm ở đốt coxa của đốt chân ngực thứ 5. Túi tinh hình thành trong quá trình
phóng tinh. Túi tinh có khối tinh trùng không di động.
Ở con cái, buồng trứng nằm ở trên mặt lưng của phần đầu ngực, ở dưới dạ dày và
gan tụy. Khi buồng trứng thành sẽ có màu vàng trải dài từ sau mắt đến đốt đầu của
phần bụng. Ống dẫn trứng nối liền với buồng trứng, buồng trứng ở trước tim chạy
dọc hai bên về phía bụng đỗ về túi chứa tinh ở đốt góc của chân ngực thứ 3.
2.3.2 Thành thục, giao vĩ, đẻ trứng và ấp trứng của tôm càng xanh
6
Trong tự nhiên tôm càng xanh thành thục, giao vĩ và đẻ trứng hầu như quanh năm.
Đồng Bằng Sông Cửu Long có hai mùa đẻ chính của tôm càng xanh đó là từ tháng
4 - 6 và tháng 8 - 10. tôm càng xanh cái thành thục và đẻ trứng khoảng 3 - 3.5
tháng nuôi. tôm càng xanh thành thục phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: môi trường,
nhiệt độ và thức ăn… (Trần Ngọc Hải và ctv, 2000).
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003) thì quá trình thành thục buồng trứng
của tôm càng xanh trải qua 4 giai đoạn phát triển trong thời gian khoảng 14 - 20
ngày. Khi buồng trứng ở giai đoạn 4 thì tôm cái giảm ăn, hoạt động giảm và sau đó
lột xác. Lột xác là giai đoạn tiền giao vĩ của tôm, quá trình giao vĩ của tôm càng
xanh được chia ra làm 4 giai đoạn: giai đoạn tiếp xúc, giai đoạn tôm đực ôm giữ
tôm cái, giai đoạn tôm đực trèo lên lưng, giai đoạn tôm đực lật ngửa và gắn túi tinh
vào tôm cái.
Quá trình giao vĩ xảy ra khoảng 20 - 25 phút. Sau khi giao vĩ xảy ra 2 - 5 giờ có khi
6 - 20 giờ thì tôm cái bắt đầu đẻ trứng, thường vào ban đêm. Trong quá trình đẻ
trứng, trứng sẽ được thụ tinh ngay khi đi ngang qua túi chứa tinh. Trứng sẽ lần
lược dính vào các lông tơ của đôi chân bụng 4, 3, 2, 1. Thời gian đẻ trứng khoảng
15 - 20 phút. Những con cái thành thục có buồng trứng chín mùi nhưng không
được giao vĩ thì chúng vẫn đẻ trứng trong vòng 24 giờ sau khi lột xác tiền giao vĩ.
Tuy nhiên những trứng này sẽ không được thụ tinh và sẽ rơi ra ngoài sau 1 - 2 ngày
sau khi đẻ.
Tuỳ vào kích cỡ và trọng lượng của tôm càng xanh mà sức sinh sản của con cái có
thể thay đổi từ 70.000 - 50.300 trứng, trung bình sức sinh sản tương đối của tôm
càng xanh khoảng 50 - 100 trứng/gram trọng lượng con cái. Tuy nhiên trong ao hồ
sức sinh sản của chúng thấp hơn, trung bình 300 - 600 trứng/gram trọng lượng con
cái. Tôm càng xanh cái có thể tái phát dục và đẻ lại sau 16 - 45 ngày.
Trong quá trình ấp trứng tôm cái dùng các chân bụng quạt nước để tạo dòng chảy
làm thông khí cho trứng và các chân ngực để loại bỏ những trứng bị hư hay vật lạ
dính vào khối trứng. Tuỳ vào thời gian và nhiệt độ mà trứng có thể nở sau 15 - 23
ngày ấp.
2.3.3 Phát triển của phôi, ấu trùng và hậu ấu trùng của tôm càng xanh
Theo Trần Ngọc Hải và ctv (2000) thì trứng tôm càng xanh mới đẻ có kích cỡ
khoảng 0,6 - 0,7 mm. Trứng thụ tinh nhân bắt đầu phân cắt và hoàn thành sự phân
cắt sau 24 giờ. Quá trình giảm phân xảy ra khi nhân phân cắt lần thứ 3, vào ngày
thứ hai đĩa mầm xuất hiện ở mặt bụng của phôi. Ngày thứ 3 vùng phôi được hình
thành và phát triển sang giai đoạn Nauplius. Sau 80 giờ các phụ bộ của Nauplius
bắt đầu phát triển. Ngày thứ 5 hình thành phụ bộ đầu và các nhú đuôi. Ngày thứ 7
điểm mắt bắt đầu phát triển và nhú đuôi trở thành gai đuôi. Ngày thứ 8 bắt đầu
hình thành giáp đầu ngực, mắt có sắc tố, ruột hình thành và tim bắt đầu đập. Ngày
thứ 12 phôi nằm dọc theo trứng và tiếp tục phát triển cho đến khi nở.
7
Theo dõi sự phát triển của phôi trứng, trứng dần phát triển từ màu vàng nhạc sang
màu vàng cam, sau đó đến màu vàng xám và cuối cùng là màu xám đen. Sau 17
-23 ngày trứng sẽ nở và quá trình nở hoàn thành sau 4 - 6 giờ. Khi nở tôm mẹ cử
động chân bụng liên tục để thải ấu trùng ra ngoài.
Ấu trùng mới nở sống phù du có tính hướng quang mạnh và cần có độ mặn 6-14‰
để sinh sống và phát triển (Trần Ngọc Hải và ctv, 2000). Ấu trùng sẽ chết sau khi
nở 3 - 4 ngày nếu sống trong môi trường nước ngọt. Ấu trùng bơi lội chủ động,
bụng ngửa và đuôi ở phía trước. Ấu trùng ăn liên tục và thức ăn gồm các loại động
thực vật phù du, giun nhỏ, ấu trùng các sinh vật thủy sinh…
Theo S.W.Ling (1969) ấu trùng trải qua 8 giai đoạn biến thái và đối với Uno và
Soo (1969) ấu trùng tôm càng xanh trải qua 11 lần lột xác để trở thành postlarvae.
Sau này nhiều tác giả như: Aquacop (1977, 1983), Adisukressno (1977, 1980),
Trương Quang Trí (1985)… cũng thống nhất ý kiến với Uno và Soo là ấu trùng
tôm càng xanh trải qua 11 lần lột xác để trở thành postlarvae (Trích dẫn bởi
Nguyễn Việt Thắng, 1993).
Bảng 2.1: Đặc điểm các giai đoạn ấu trùng tôm càng xanh (Uno và Soo, 1969
được trích dẫn bởi Trần Ngọc Hải và ctv, 2000)
Giai đoạn Tuổi (ngày) Chiều dài tổng (mm) Đặc điểm
I 1 1,92 Mắt chưa có cuống
II 2 1,99 Mắt có cuống
III 3 - 4 2,14 Xuất hiện Uropod
IV 4 - 6 2,50 Có 2 răng trên chủy, chân
đuôi có hai nhánh, có lông tơ
V 5 - 8 2,80 Telson hẹp và kéo dài ra
VI 7 - 10 3,75 Mầm chân bụng xuất hiện
VII 11 - 17 4,06 Chân bụng có 2 nhánh chưa
có lông tơ
VIII 14 - 19 4,68 Chân bụng có lông tơ
IX 15 - 22 6,07 Nhánh trong của chân bụng
có nhánh phụ trong
X 17 - 24 7,05 Có 3 - 4 răng trên chủy
XI 19 - 26 7,73 Răng xuất hiện hết nửa trên
chủy
Postlarvae 23 - 27 7,69 Răng xuất hiện cả trên và
dưới chủy, có tập tính như
tôm lớn
8
Giai đoạn I Giai đoạn II Giai đoạn III
Giai đoạn IV Giai đoạn V Giai đoạn VI
Giai đoạn VII Giai đoạn VIII Giai đoạn IX
Giai đoạn X Giai đoạn XI Postlave
Hình 2.2: Các giai đoạn phát triển của ấu trùng
2.3.4 Môi trường sống của ấu trùng tôm càng xanh
2.3.4.1 Nhiệt độ
Nhiệt độ đóng một vai trò rất quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và sự phát triển
của ấu trùng, nó quyết định chiều dài giai đoạn phát triển ấu trùng (New và Valenti,
2000).
Theo Nguyễn Việt Thắng (1993), ngưỡng nhiệt độ dưới của ấu trùng tôm càng
xanh là 21
o
C, khi nhiệt độ tăng dần lên thì thời gian phát triển của ấu trùng càng rút
ngắn và nhiệt độ dưới 24 - 26
o
C thì ấu trùng phát triển không tốt.
Theo nhiều tác giả như: New (1982), Fujimura (1966, 1977), Adisurkressno (1977,
1980) xác định ngưỡng nhiệt độ trên của ấu trùng tôm càng xanh là 33 - 34
0
C (trích
dẫn bởi Nguyễn Việt Thắng, 1993). Các tác giả này đều cho rằng nhiệt độ tối ưu
9
của tôm nằm trong khoảng 26 - 31
0
C và dưới 24 - 26
0
C thì ấu trùng phát triển
không tốt.
2.3.4.2 Độ pH
Độ pH nước trong bể chịu ảnh hưởng bởi một số quá trình xảy ra trong nước bao
gồm các hợp chất chứa nitơ, sự hoạt động hô hấp của ấu trùng, artemia và các vi
sinh vật hiếu khí khác (New và Valenti, 2000).
Theo Nguyễn Thanh Phương và ctv (2003) mức pH thích hợp cho tôm càng xanh
nằm trong khoảng từ 7,0 - 8,5 và pH dao động trong một ngày không quá 1 đơn vị.
Mặc khác để có nước ương ấu trùng thì người ta phải dùng nước biển được vận
chuyển đến trại giống và pha với nguồn nước hiện có ở địa điểm sản xuất. Nguồn
nước biển có pH dao động từ 7,8 - 8,3 và nước ngọt từ 7,1 - 7,5 (Nguyễn Việt
Thắng, 1993). Do vậy hai loại được pha vào nhau sẽ cho pH thích hợp.
2.3.4.3 Độ mặn
Tôm càng xanh sống chủ yếu ở nước ngọt nhưng ấu trùng bắt buộc phải sống trong
điều kiện nước lợ (Trần Thị Thanh Hiền và ctv, 2003). Do đó, độ mặn có ảnh
hưởng rất lớn đến sự phát triển của ấu trùng.
Có nhiều ý kiến khác nhau về ngưỡng nồng độ muối trong ương nuôi ấu trùng tôm
càng xanh, nhưng thường dao động từ 12 - 15‰ (Nguyễn Thị Thanh Thủy, 2002).
Aquacop (1984) và Griessinger (1986) đã duy trì độ mặn 12‰ trong bể ương ấu
trùng trong suốt từ giai đoạn 1 đến khi chuyển hoàn toàn thành postlarvae, chỉ giảm
xuống 6-10‰ khi ương postlarvae (Nguyễn Thị Thanh thủy, 2002).
2.3.4.4 Nồng độ oxy hòa tan
Theo nhiều tác giả: Ling (1969), Fujimura (1974), New (1982), Aquacop (1977-
1984) đều thống nhất lượng oxy hòa tan trong bể đối với ương ấu trùng là 6 - 9
mg/l (Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, 2002).
Trong điều kiện sản xuất giống và nếu đảm bảo sục khí đầy đủ thì không cần phải
kiểm tra nồng độ oxy trong bể ương (Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, 2002).
2.3.4.5 Ánh sáng
Ánh sáng mặt trời trực tiếp dường như có hại cho ấu trùng, đặc biệt là trong hệ
thống nước trong (New và Shingolka, 1985), nhưng cũng không thể thiếu ánh sáng
cho ấu trùng phát triển.
Ấu trùng tôm càng xanh cũng như ấu trùng của các loài giáp xác khác đều có tính
hướng sáng tốt, nếu trong bể cường độ ánh sáng lớn sẽ vô tình tạo điều kiện cho ấu
trùng tập trung, bám nhau, cạnh tranh về thức ăn trong một không gian hẹp
(Nguyễn Thị Thu Thuỷ, 2002). Điều này không tốt bởi vì tập tính của tôm càng
xanh là ăn tạp và ăn thịt lẫn nhau (New và Valenti, 2000), con vừa lột xác còn yếu
sẽ dễ làm mồi cho những con khác trong đàn.
10
Tác động của ánh sáng đến ấu trùng còn liên quan đến màu sắc của bể ương bởi vì
màu sắc bể phản chiếu ánh sáng truyền vào. Theo Phạm Văn Tình (2004a) nếu sơn
bể màu trắng, ánh sáng chiếu vào bể sẽ bị phản chiếu trở lại làm cho ấu trùng bị
lầm dẫn đế rối loạn sinh lý. Một nghiên cứu mới đây của Tidwell và ctv (2005) cho
thấy dùng bể màu đỏ và màu xanh lá cây thì tỷ lệ sống của ấu trùng là 84% và 78%
so với bể sơn màu trắng và màu xanh dương là 56% và 44%, bể sơn màu vàng và
màu đen đều bằng 71%.
Các báo cáo về nuôi ấu trùng tôm càng xanh thành công thì cường độ ánh sáng
trong khoảng 250 - 6.500 lux (New và Valenti, 2000).
2.3.4.6 Nồng độ NH
3
-N và nitrite (NO
2
-N)
Các hợp chất nitơ hoà tan trong nước như: ammonia (NH
3
-N), nitrite (NO
2
-N),
nitrate (NO
3
-N) là các thông số đánh giá chất lượng nước rất quan trọng trong nuôi
trồng thuỷ sản nói chung và trong ương ấu trùng tôm càng xanh nói riêng
Chất lượng nước trong bể ương rất dễ bị biến đổi chính do sản phẩm bài tiết của
ấu trùng, Artemia và do sự phân hủy của thức ăn thừa. Một vài biến đổi có thể rất
có hại cho ấu trùng. Nguy hiểm nhất là sự tăng ammonia chưa ion hoá (NH
3
), chất
này làm tăng pH và nitrite (New và Shingolka, 1985).
Aquacop (1977, 1983), Griessinger (1986), Liao và Mayo (1972) đã xác định
ngưỡng sinh lý của một số hợp chất nitơ đối với ấu trùng tôm càng xanh trong môi
trường ương: NH
4
+
là 0,005 - 1 mg/l, NO
2
là 0,002 - 0,350 mg/lít, NO
3
là 0,5 - 3,5
mg/l (Nguyễn Thị Thu Thuỷ, 2002). New và Shingolka (1985) cho rằng không nên
lấy nước có hàm lượng nitrite (NO
2
-N) và nitrate (NO
3
-N) cao hơn 0,1 ppm và 20
ppm.
2.4 Các quy trinh kĩ thuật ương nuôi ấu trùng tôm càng xanh
Trên thế giới và nước ta có 3 qui trình sản xuất giống tôm càng xanh phổ biến là
qui trình nước trong hở, qui trình nước trong kín và qui trình nước xanh. Qui trình
nước xanh cải tiến còn tương đối mới nhưng cũng cho thấy rất triển vọng, đang
được các trại sản xuất giống tôm càng xanh qui mô nông hộ áp dụng rộng rãi. Mỗi
qui trình sản xuất có những đặc điểm thuận lợi và khó khăn riêng.
2.4.1 Quy trình nước trong hở
Quy trình nước trong hở được khởi xướng bởi Ling (1969) và hoàn thiện bởi
Aquacop (1977) (trích bởi Trần Ngọc Hải và ctv, 2000). Tại Việt Nam quy trình
này được thử nghiệm đầu tiên vào năm 1987 bởi Nguyễn Việt Thắng (Viện Nghiên
cứu Nuôi trồng Thủy sản II) và Bùi Lai (Đại Học Cần Thơ).
Đây cũng là quy trình được ứng dụng nhiều ở nước ta trước đây. Đặc điểm của quy
trình này là yêu cầu nguồn nước phải trong sạch ( không có tảo), thay nước hàng
ngày, có thể ương ở mật độ cao.
11
Quy trình nước trong hở tương đối đơn giản, dễ thao tác, có thể nâng cao mật độ
ương để đạt sản lượng lớn, phù hợp với các trại có đầy đủ hai nguồn nước mặn và
ngọt có chất lượng nước tốt.
Tuy nhiên quy trình tiêu tốn nhiều nước để thay nước, tăng cao chi phí sản xuất.
Trong quy trình này mật độ ương từ 50 - 250 con/lít đạt tỉ lệ sống trung bình 35 -
50% (Nguyễn Việt Thắng, 1990 trích bởi Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003).
Lượng thức ăn tiêu tốn cho 1 triệu postlarvae là 22 - 25 kg Artemia và 50 kg thức
ăn chế biến (New, 1985 được trích bởi Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003).
2.4.2 Quy trình nước trong tuần hoàn
Quy trình nước trong tuần hoàn có thể ương ấu trùng ở mật độ cao, tiết kiệm được
nước. Trong suốt quá trình ương không thay nước, chỉ bổ sung thêm nước mới,
phù hợp với những vùng xa nguồn nước mặn và chất lượng nước kém.
Tuy nhiên quy trình nước trong tuần hoàn cần phải thiết kế hệ thống tốn kém, phải
có phương tiện kiểm soát môi trường và trang thiết bị phức tạp, cùng với sự quản lí
chặt chẽ, yêu cầu người sản xuất phải có kinh nghiệm và kỹ thuật chuyên môn cao.
2.4.3 Quy trình nước xanh và nước xanh cải tiến
Quy trình nước xanh có ưu điểm là tự tạo cân bằng sinh thái trong môi trường
nước. Tuy nhiên quy trình này ương mật độ thấp nên sản lượng không cao. Ngoài
ra quy trình nước xanh đòi hỏi phải nuôi giữ tảo chlorella phức tạp, mật độ tảo khó
duy trì ổn định trong bể ương lâu dài gây trở ngại trong việc điều chỉnh các yếu tố
môi trường, đồng thời vẫn phải tốn kém cho chi phí nuôi tảo và thay nước.
Qui trình nước xanh cải tiến ương ở mật độ 20-60 con/lít, đạt tỉ lệ sống 30 - 98%
(Khoa Thủy sản, 1999 - 2001, trích bởi Nguyễn Thanh Phương và ctv, 2003).
Nguyên tắc của quy trình là cho phép vi sinh vật và tảo phát triển tự nhiên trong bể
ương để tự ổn định môi trường nước.
Quy trình nước xanh cải tiến có nhiều ưu điểm là đơn giản, không phải thay nước,
không vệ sinh bể, không bổ sung tảo trong suốt quá trình ương.
2.5 Các vấn đề về sinh sản ở tôm càng xanh
Sức sinh sản của tôm càng xanh mẹ tăng theo trọng lượng. Khi tôm càng xanh có
trọng lượng từ 40 - 120 gram thì sức sinh sản cao, kích thước trứng lớn và ấu trùng
to, khoẻ. Ngược lại tôm càng xanh có kích thước <40 gram và >120 gram thì có
sức sinh sản kém, kích thước trứng nhỏ và ấu trùng nhỏ, yếu (Nguyễn Việt Thắng,
1993).
Một số tác giả như: Ling (1969), Fujimura (1974), Adisukressno (1980) chọn tôm
mẹ có trọng lượng 40 - 80 gram. Và Malecha (1983) chọn tôm mẹ trung bình 40
gram có sức sinh sản cao 900 - 1.000 trứng/gram khối lượng tôm mẹ. Trong khi đó,
Subramanyam (1980) yêu cầu chọn tôm mẹ cho tham gia sinh sản có khối lượng 40
- 60 gram để cho sinh sản (Trích dẫn bởi Nguyễn Việt Thắng, 1993).
12
Theo Nguyễn Việt Thắng và ctv (1991) chọn tôm mẹ cho tham gia sinh sản có khối
lượng trung bình 26.5 - 52 gram (Trích dẫn bởi Nguyễn Việt Thắng, 1993). Nhiều
tác giả còn đề xuất chọn tôm mẹ có trọng lượng 30 - 35 gram để cho tham gia sinh
sản như: Griessinger (1986), Nguyễn Việt Thắng, Hà Quang Hiền và Phạm Văn
Tình (1986) (Trích dẫn bởi Nguyễn Việt Thắng, 1993).
Bảng 2.2: Sức sinh sản của tôm càng xanh ở các kích cở và trọng lượng khác
nhau (Ang, 1991 được trích dẫn bởi Trần Ngọc Hải và ctv, 2000).
Chiều dài (cm )
Trọng lượng
(gram)
Trọng lượng trứng
(gram)
Số lượng trứng
8,0 4,29 0,132 1.044
8,5 5,31 0,189 1.535
9,0 6,48 0,265 2.209
9,5 7,82 0,364 3.115
10,0 9,36 0,493 4.317
10,5 11,1 0,657 5.889
11,0 13,06 0,864 7.917
11,5 15,25 1,122 10.505
12,0 17,69 1,442 13.771
12,5 20,4 1,834 17.885
13,0 23,4 2,310 29.915
13,5 26,7 2,885 29.134
14,0 30,31 3,574 36.719
14,5 34,26 4,394 45.903
15,0 38,57 5,364 56.952
15,5 43,25 6,508 70.163
16,0 43,32 7,846 85.867
16,5 53,81 9,405 104.436
17,0 59,72 11,212 126.279
17,5 66,08 13,299 151.853
18,0 72,91 15,669 181.660
18,5 80,24 18,447 216.253
19,0 88,07 21,584 256.239
19,5 96,43 25,151 302283
20,0 105,35 29,195 355112
Chất lượng ấu trùng không chỉ phụ thuộc vào thể trọng mà còn phụ thuộc vào
nguồn gốc tôm mẹ mang trứng. Khi tôm mẹ có nguồn gốc khác nhau thì chất lượng
ấu trùng khác nhau.
13
Theo Nguyễn Việt Thắng (1993) tôm mẹ có trọng lượng trung bình 10 - 45 gram
thì sức sinh sản thực tế và sức sinh sản hiệu quả của tôm càng xanh có nguồn gốc
từ ao sẽ thấp hơn tôm càng xanh có nguồn gốc ngoài tự nhiên. Và cũng theo
Nguyễn Thanh Phương và ctv (2007) ấu trùng của của tôm mẹ có nguồn gốc từ ao
nuôi thương phẩm là thấp nhất (13.917 ấu trùng/tôm mẹ có khối lượng từ 16,3 -
37,6 gram), kế đến là tôm nuôi vỗ (15.451 ấu trùng/tôm mẹ với khối lượng tôm mẹ
từ 17,9 - 40,8 gram) và ấu trùng có nguồn gốc từ tôm tự nhiên là cao nhất (17.083
ấu trùng/tôm mẹ có khối lượng từ 18,4 - 45,5 gram).
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét