Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Cơ chế quản lý Ngân sách nhà nước cho nghành giáo dục và đào tạo cảu Việt Nam. Thực trạng và giải pháp

Chuyên đề cuối khóa
thuộc năng lực nội sinh, có tầm quan trọng hơn so với các hệ thống yếu tố
khác như tài nguyên thiên nhiên, vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật.Giáo dục là
nền tảng phát triển khoa học công nghệ. Có kiến thức mới làm chủ được
công nghệ và làm chủ được chính mình không phải phụ thuộc vào bên
ngoài. Nâng cao chất lượng giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu
nhằm tạo ra những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ xây dựng chất lượng
giáo dục, xây dựng nhân cách người học đến cách tổ chức quá trình và hệ
thống giáo dục.
Giáo dục đào tạo có 3 chức năng chính:
- Chức năng kinh tế: Thứ nhất, giáo dục là con đường cơ bản nhất để
tích luỹ vốn nhân lực- nhân tố quyết định tăng năng suất lao động, góp
phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Đào tạo nên một lớp người mới có năng
lực cần thiết để đáp ứng đòi hỏi của nền sản xuất cụ thể. Đối với sự phát
triển nền kinh tế thì đây là lực lượng quan trọng vào bậc nhất. Thứ hai, giáo
dục có vai trò quyết định đến phát triển và làm chủ KHCN hiện đaih – nhân
tố bảo đảm cho sự tăng trưởng kinh tế cao và bền vững. Giáo dục đào tạo
có chức năng truyền bá kiến thức khoa học cho những người có năng lực
học tập và vận dụng vào thực tế. Không những đào tạo được đội ngũ cán bộ
khoa học mà còn sản sinh ra kiến thức khoa học thông qua hệ thống NCKH
của các trường Đại học. Thứ ba, giáo dục góp phần quan trọng thúc đẩy
việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu nền KTQD phù hợp với xu hướng
phát triển của mọi thời đại. Sự phát triển của giáo dục về cả quy mô, cả
chất lượng với một cơ cấu hợp lý về vùng miền, trình độ, nghành nghề đào
tạo… sẽ góp phần tích cực thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ
cấu nền KTQD phù hợp với xu thế của thời đại, từ đó đảm bảo cho sự tăng
trưởng cao và bền vững của nền kinh tế.
- Chức năng chính trị- xã hội: Chính trị là lĩnh vực hoạt động của
xã hội loài người mà đặc trưng là các vấn đề liên quan đến quyền lực và
lợi ích của con người, cộng đồng giai cấp trong xã hội. Trong lịch sử phát
SV: Phạm Văn Minh Lớp: K42/01-02
Chuyên đề cuối khóa
triển xã hội loài người, từ khi xã hội có giai cấp, có Nhà nước thì giáo dục
đào tạo luôn là công cụ quan trọng của Nhà nước. Xét về bản chất, giáo
dục đào tạo thực sự gắn bó với xu hướng chính trị tiến bộ. Nền giáo dục
nước ta hiện nay là nền giáo dục được ra đời và phát triển nhờ một thể
chế chính trị cách mạng tiến bộ. Mục tiêu xã hội chủ nghĩa và độc lập
được quán triệt một cách sâu rộng trong toàn bộ hệ thống giáo dục giáo
dục Việt Nam.
Như vậy, giáo dục không chỉ tạo ra một lớp người lao động mới
cho xã hội mà còn thay đổi bộ mặt chính trị xã hội thông qua mục đích tổ
chức của nền giáo dục, các chính sách cho giáo dục thể hiện tính nhân
văn, tính đại chúng hay đẳng cấp của giáo dục.
- Chức năng tư tưởng văn hoá: Giáo dục đào tạo không chỉ tạo ra
con người phát triển về trí tuệ, kỹ năng lao động mà còn đảm bảo cho
việc hình thành một hệ tư tưởng, hình thành một nếp sống mới trên nền
tảng của một nền văn hóa mới, nhân sinh quan mới.
Xét về góc độ lịch sử văn hoá chỉ được hình thành thông qua một
quá trình sáng tạo lâu dài, xây dựng và truyền kinh nghiệm từ đời này
sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Trong quá trình này không
thể thiếu giáo dục đào tạo, đó chính là truyền lại các giá trị văn hoá. Sự
sáng tạo trong quá trình giáo dục đào tạo làm phong phú hơn những giá
trị văn hóa vốn có, làm nảy sinh những giá trị văn hoá mới.
1.1.2 Hệ thống giáo dục quốc dân
Hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam bao gồm Giáo chính quy và
Giáo dục thường xuyên.
Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân
bao gồm:
• Giáo dục mầm non có nhà trẻ mẫu giáo
• Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung
học phổ thông
SV: Phạm Văn Minh Lớp: K42/01-02
Chuyên đề cuối khóa
• Giáo dục dạy nghề có trung cấp chuyên nghiệp và dạy
nghề
• Giáo dục đại học và sau đại học đào tạo trình độ Cao
đẳng, trình độ Đại học, trình độ Thạc sỹ, trình độ Tiến
sỹ.
Gắn với hệ thống giáo dục quốc dân nước ta, khối giáo dục bao
gồm giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông; khối đào tạo bao gồm
giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.
SV: Phạm Văn Minh Lớp: K42/01-02
Chuyên đề cuối khóa
SV: Phạm Văn Minh Lớp: K42/01-02
TIẾN SỸ
THẠC SỸ
ĐẠI HỌC
CAO ĐẲNG
TRUNG CẤP
CHUYÊN NGHIỆP
DẠY NGHỀ
TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG
THCS
TIỂU HỌC
MẪU GIÁO
NHÀ TRẺ
Chuyên đề cuối khóa
1.2 VAI TRÒ CỦA NSNN VỚI GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
1.2.1 Khái niệm bản chất của NSNN
1.2.1.1 Khái niệm
NSNN với tư cách là một phạm trù kinh tế bao giờ cũng gắn liền
với sự xuất hiện, tồn tại của Nhà nước phát triển đến một trình độ nhất
định. Sự xuất hiện của Nhà nước trong lịch sử đòi hỏi phải có những
nguồn lực tài chính để đáp ứng chi tiêu nhằm phục vụ cho việc thực hiện
các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước.
“NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ
quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một
năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước” ( Theo
Luật NSNN )
1.2.1.2 Bản chất
- Về phương diện pháp lý: NSNN là một đạo luật dự trù các khoản
thu, chi bằng tiền mặt của Nhà nước trong một thời gian nhất định thường
là một năm.
- Về bản chất kinh tế: NSNN là hệ thống những mối quan hệ kinh
tế giữa Nhà nước với xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động
và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức
năng nhiệm vụ của Nhà nước.
Các quan hệ lợi ích kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể khác:
+ Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các doanh nghiệp
+ Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với hộ gia đình
+ Quan hệ kinh tế với cá nhân trong và ngoài nước gắn liền
với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách.
-Về tính chất: NSNN là bảng tổng hợp các khoản thu, chi của Nhà
nước, là mức động viên các nguồn tài chính vào tay Nhà nước, là khoản
cấp phát của Nhà nước cho các nhu cầu tiêu dùng và đầu tư phát triển, đó
cũng là đóng góp theo nghĩa vụ hay tự nguyện của mỗi thành viên trong
SV: Phạm Văn Minh Lớp: K42/01-02
Chuyên đề cuối khóa
xã hội cho Nhà nước và Nhà nước cấp phát kinh phí đầu tư cho mỗi thành
viên trong xã hội.
1.2.2 Vai trò của NSNN với giáo dục đào tạo
Phát triển GD- ĐT là một trong những động lực quan trọng nhất
thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá- hiện đại hoá, là điều kiện tiên quyết
để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng
trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Đặc biệt trong bối cảnh thế giới đang
bước sang thời đại mới- thời đại trí tuệ và trong môi trường toàn cầu hóa,
trong đó, các yếu tố tri thức và thông tin trở thành những yếu tố hàng đầu
và là nguồn tài nguyên giá trị nhất thì giáo dục trở thành đòn bẩy cho sự
phát triển kinh tế. Chính vì vậy đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát
triển, đầu tư cho tương lai, đầu tư hiệu quả nhất.
Đầu tư tài chính giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành, mở
rộng và phát triển hệ thống giáo dục quốc dân từ giáo dục mầm non , giáo
dục phổ thông, đáo tạo công nhân, trung học chuyên nghiệp, đại học cho
đến đào tạo sau đai học. Trong số các nguồn lực tài chính đầu tư cho giáo
dục đào tạo thì đầu tư từ ngân sách Nhà nước là tất yếu đóng vai trò chủ
đạo trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả giao dục. Sở dĩ NSNN
đong vai trò chỉ đạo là vì:
- Trong hệ thống tài chính nước ta thì tài chính Nhà nước chiếm
một tỷ trọng lớn. Mà trong tài chính Nhà nước bao gồm NSNN và tín
dụng Nhà nước thì NSNN có tỷ trọng lớn nhất. Trong các nhu cầu tiêu
dùng xã hội mà NSNN đảm bảo thì theo chủ trương đường lối của Đảng
và Nhà nước thì nhu cầu cho giáo dục đào tạo đứng hàng đầu. Mặt khác,
giáo dục đào tạo là dịch vụ hàng hoá công cộng tạo ra những ngoại ứng
tích cực và có vai trò đến sự phát triển nguồn nhân lực- nhân tố quyết
định đến sự phát triển kinh tế của một quốc gia. Đầu tư từ NSNN cho
giáo dục nhằm đảm bảo điều kiện tài chính để phát triển hệ thống giáo
dục, nâng cao mang lưới các cơ sở giáo dục, điều chỉnh quy mô, cơ cấu
SV: Phạm Văn Minh Lớp: K42/01-02
Chuyên đề cuối khóa
và nâng cao chất lượng hiệu quả của giáo dục. Do đó nguồn tài chính từ
NSNN la nguồn cơ bản, to lớn nhất để duy trì và phát triển hệ thống giáo
dục theo đúng đường lối của Đảng và Nhà nước.
- Thứ hai, đầu tư của NSNN có tác dụng hướng dẫn, huy động các
nguồn vốn khác đầu tư cho giáo dục đào tạo vì giáo dục là hàng hoá công
cộng, tạo ra ngoại ứng tích cực và có vai trò quyết định đến sự phát triển
nguồn nhân lực. Đầu tư từ NSNN cho giáo dục khuyến khích nhân dân
đóng góp xây dựng và sửa chữa trường lớp, đóng góp của các doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế nhằm thực hiện phuơng châm “ Nhà
nước và nhân dân cùng chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo”,
đồng thời là nguồn chính để phát huy nguồn viện trợ và cho vay của nước
ngoài để đầu tư cho giáo dục đào tạo . Lợi ích của việc đầu tư cho giáo
dục đem lại không chỉ cho những người trực tiếp được hưởng giáo dục
mà còn cho cả xã hội nói chung. Tuy nhiên trong thực tế các cá nhân hầu
như không tính đến những tác động này trong việc lựa chọn quyết định có
nên đầu tư vào giáo dục hay không. Nếu như trong trường hợp họ có biết
tác động tích cực của giáo dục song thiếu sự khuyến khích và tạo điều
kiện của Nhà nước để đi đến quyết định đầu tư. Như vậy, nếu không có
sự đầu tư của NSNN để hỗ trợ và khuyến khích thì mức đầu tư của các tổ
chức cá nhân trong xã hội cho sự phát triển giáo dục sẽ thấp hơn khả năng
sẵn có.
- Thứ ba, NSNN đầu tư cho giáo dục đào tạo sẽ đảm bảo từng bước
ổn định đời sống của cán bộ công nhân viên làm trong nghành giáo dục.
NSNN ngoài chi trả tiền lương chính cho đội ngũ giáo viên giảng dạy còn
dành một phần để ưu đãi riêng cho nghành giáo dục như phụ cấp giảng
dạy, phụ cấp thâm niên, phụ cấp trách nhiệm , phụ cấp dạy thêm giờ,…
- Thứ tư, NSNN có vai trò điều phối cơ cấu giáo dục toàn nghành.
Thông qua định mức chi ngân sách giáo dục đào tạo hàng năm đã góp
phần định hướng sắp xếp cơ cấu các cấp học, mạng lưới trường. Tập
SV: Phạm Văn Minh Lớp: K42/01-02
Chuyên đề cuối khóa
trung NSNN cho những chương trình mục tiêu quốc gia như chốn mù
chữ, phổ cập giáo dục, xây dựng hệ thống trường dân tộc nội trú, khuyến
khích phát triển giáo dục ở vùng núi và dân tộc ít người, tăng cường cơ sở
vật chất cá trường học,…
- Thứ năm, đầu tư từ NSNN cho giáo dục nhằm đảm bảo công bằng
xã hội trong giáo dục. Nếu giáo dục được cung cấp hoàn toàn theo cơ chế
thị trường không có sự đầu tư từ NSNN thì bộ phận dân cư không có khả
năng chi trả các khoản chi phí giáo dục sẽ không có cơ hội được học tập,
tiếp thu kiến thức, từ đó mất công bằng xã hội trong giáo dục. Hơn nữa,
công bằng xã hội trong giáo dục còn là điều kiện quan trọng để đạt đến
công bằng xã hội nói chung.
- Thứ sáu, đầu tư của Nhà nước cho giáo dục nhằm để khắc phục
khiếm khuyết của thị trường vốn. Trên thực tế, thị trường vốn cho việc
đầu tư vào giáo dục là không hoàn hảo. Vì hầu như không có cơ sở nào
cho việc xác định khả năng chắc chắn để hoàn trả lại các khoản vay cho
việc học tập của các cá nhân sau khi đã kết thúc khoá học. Do vậy, các
chủ thể cho vay không dễ dàng chấp nhận bỏ vốn để đầu tư vào giáo dục.
Để khắc phục khiếm khuyết này cần thiết phải có sự can thiệp và đầu tư
của Nhà nước cho giáo dục.
Nhìn chung trên thực tế tại Việt Nam hiện nay nguồn lực tài chính
để phát triển giáo dục chủ yếu từ nguồn NSNN. NSNN đóng vai trò quan
trọng, là yếu tố chính quyết định tới sự nghiệp giáo dục đào tạo.
1.2.3 Cơ chế chi tiêu NSNN cho giáo dục đào tạo
Hiện nay, theo Luật NSNN, nội dung chi tiêu NSNN được phân
theo tính chất kinh tế của các khoản chi được sử dụng. Theo tính chất
kinh tế, chi NSNN cho giáo dục đào tạo được phân chia theo các nội
dung:
- Chi thường xuyên bao gồm các khoản chi lương và các khoản
củng cố CSVC, thiết bị trường lớp…Kế hoạch chi thường xuyên được lập
SV: Phạm Văn Minh Lớp: K42/01-02
Chuyên đề cuối khóa
chủ yếu dựa trên định mức phân bổ và kế hoạch chi thường xuyên của
năm trước.
- Chi đầu tư bao gồm các khoản chi xây dựng CSVC, củng cố và
phát triển mạng lưới trường lớp cho sự phát triển của nền giáo dục. Chi
đầu tư đóng vai trò quan trọng trong phát triển giáo dục. Chi đầu tư phát
triển cho giáo dục từ NSNN bao gồm: chi xây mới, cải tạo,nâng cấp
trường học, phòng học, phòng thí nghiệm, phòng thực hành, thư viện,
công sở làm việc và mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho công tác
giảng dạy học tập và nghiên cứu khoa học ở các cơ sở giáo dục đào tạo.
- Chi NSNN cho CTMT cho quốc gia về giáo dục nhằm thực hiện
những mục tiêu cụ thể có tính cấp bách trong phát triển nền giáo dục quốc
dân ở từng thời kỳ. CTMT quốc gia về giáo dục thường được thực hiện
bao gồm: Phổ cập giáo dục, xoá mù chữ, hỗ trợ giáo dục cho những vùng
miền có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn như: Vùng sâu,
vùng xa, biên giới, hải đảo; tăng cường CSVC như xoá phòng học cấp 4,
phòng học ca 3, tăng cường chất lượng và chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, giáo
viên; đổi mới chương trình, nội dung SGK…
1.3 CƠ CHẾ QUẢN LÝ NSNN CHO GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO.
1.3.1 Khái niệm cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục và đào tạo
Quản lý NSNN là việc sử dụng NSNN làm công cụ quản lý hệ
thống xã hội thông qua việc sử dụng những chức năng vốn có của nó.
Quản lý NSNN là việc làm cần thiết gắn với việc chi NSNN nhằm tạo ra
những khoản chi đúng mục đích và đạt hiệu quả cao.
Cơ chế quản lý NSNN là hệ thống các nguyên tắc, các hình thức và
phương pháp quản lý điều hành NSNN trong từng giai đoạn phát triển
kinh tế. Cơ chế quản lý NSNN bao gồm các cơ chế thu, chi ngân sách,
cân đối ngân sách, cấp phát ngân sách. Yêu cầu của cơ chế quản lý NSNN
trong nền kinh tế thị trường là ưu tiên sử dụng NSNN để thực hiện những
SV: Phạm Văn Minh Lớp: K42/01-02
Chuyên đề cuối khóa
nhiệm vụ của Nhà Nước, những công việc mà thị trường không thể thực
hiện hoặc không thể giao cho thị trường thực hiện.
1.3.2 Nội dung cơ chế quản lý NSNN cho giáo dục đào tạo.
1.3.2.1 Cơ chế phân cấp ngân sách.
Trong cơ chế quản lý NSNN, cơ chế phân cấp ngân sách có vị trí
rất quan trọng, thể hiện mối quan hệ phân cấp, phân quyền, phối hợp hoạt
động giữa các cấp chính quyền trong việc quản lý, điều hành ngân sách.
Yêu cầu đối với cơ quan Trung ương phải giữ vai trò chủ đạo tập trung
các nguồn thu có tính chất quốc gia và giải quyết các nhu cầu chi tiêu có
tính chất trọng điểm trên phạm vi cả nước. Ngân sách địa phương phải
được phân cấp một số nguồn thu và nhiệm vụ chi nhất định để đảm bảo
thực hiện chức năng quản lý Nhà nước của chính quyền địa phương trên
địa bàn. Mối quan hệ giữa ngân sách TW và ngân sách địa phương phải
được giải quyết hài hòa thông qua cơ chế điều tiết và trợ cấp ngân sách
giữa TW và địa phương. Việc địa phương quản lý ngân sách có thể giúp
huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn và làm cho cung cấp dịch
vụ phù hợp hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu và mong muốn của người dân
địa phương. Tuy nhiên nếu phân cấp không tốt dẫn đến tình trạng chồng
chéo,làm suy yếu sự điều phối TW và địa phương.
Việt Nam có bốn cấp chính quyền. Ở cấp TW, quyền lập pháp
thuộc về Quốc hội, cơ quan có trách nhiệm quyết định ngân sách Nhà
nước. NSNN gồm không chỉ ngân sách của chính quyền Trung ương mà
còn có cả ngân sách tổng hợp của các cấp tỉnh- huyện- xã. Cơ cấu của
ngân sách mang tính thứ bậc: Ngân sách mỗi cấp không chỉ được HĐND
cấp đó quyết định mà còn phải được chính quyền cấp trên phê chuẩn.
Chính quyền ở mọi cấp hoạt động theo một hệ thống song trùng lãnh đạo
và chịu trách nhiệm giải trình. Từng cấp ngân sách phải chịu trách nhiệm
lập dự toán ngân sách hàng năm ( bao gồm các khoản thu, chi trên phạm
vi địa bàn mình quản lý), chịu trách nhiệm hướng dẫn, giám sát việc thực
SV: Phạm Văn Minh Lớp: K42/01-02

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét