Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Luận văn thạc sỹ: "Mặt trái của sự đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam"

danh mục các chữ viết tắt
CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
DN : Doanh nghiệp
FDI : Đầu t trực tiếp nớc ngoài
FPI : Đầu t gián tiếp
NLĐ : Ngời lao động
TNCs : Các công ty xuyên quốc gia
WTO : Tổ chức thơng mại thế giới
danh mục bảng biểu Trang
Bảng 2.1: Vốn FDI phân theo đối tác năm 2008 37
Bảng 2.2: Vốn đầu t vào một số ngành công nghiệp năm 2007 39
Bảng 2.3: Vốn đầu t vào lĩnh vực dịch vụ năm 2007 40
Bảng 2.4: Vốn đầu t trong lĩnh vực Nông - Lâm - Nghiệp năm
2007
42
Bảng 2.5: Tỉ lệ đầu t so với GDP 46
Biểu đồ 2.1: Tổng vốn đầu t nớc ngoài 2000 - 11/2008 36
Biểu đồ 2.2: Lợng vốn đầu t trực tiếp nớc ngoài từ 1995 - 2007 44
Biểu đồ 2.3: Đóng góp từ khu vực có vốn FDI 47
Biểu đồ 2.4: FDI vào BĐS theo lĩnh vực năm 2008 58
M U
1) Sự cần thiết của đề tài
Tiến trình đổi mới kinh tế của Việt Nam tính đến nay đã đợc hơn 20 năm.
Trong hơn 20 năm đó, nền kinh tế đã đạt đợc nhiều thành tựu đáng ghi nhận, trong
đó có sự đóng góp quan trọng của khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài.
Đầu t trực tiếp nớc ngoài đã trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho sự
phát triển kinh tế- xã hội nớc ta, có tác dụng to lớn trong việc thúc đẩy sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hớng công nghiệp hóa, hiện đại hóa thông qua việc mở ra
nhiều ngành nghề mới và nhiều loại sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu đa dạng của
ngời tiêu dùng và xuất khẩu. Theo đó, khu vực đầu t nớc ngoài cũng tạo thêm
nhiều việc làm, nâng cao năng lực quản lý và trình độ công nghệ cho nền kinh tế.
Đặc biệt, hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài đã thúc đẩy việc mở rộng quan hệ
kinh tế đối ngoại giữa nớc ta với các nớc trong khu vực và trên thế giới.
Để khẳng định vai trò quan trọng của khu vực đầu t trực tiếp nớc ngoài, Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ IX đã thừa nhận khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài là
một thành phần kinh tế, một bộ phận hữu cơ gắn kết ngày càng chặt chẽ và bình
đẳng với các thành phần kinh tế khác của nền kinh tế, và đợc khuyến khích phát
triển. Tuy nhiên, đầu t trực tiếp nớc ngoài không chỉ có tác động tích cực, mà nó
còn có tác động ngợc chiều (mặt trái) đối với nền kinh tế nớc ta, do đó nếu thiếu sự
quản lý của nhà nớc, hoặc nhà nớc quản lý kém hiệu quả thì những mặt trái sẽ
bùng phát. Vì vậy, việc nhận diện và làm rõ tác động hai mặt, nhất là mặt trái của
đầu t trực tiếp nớc ngoài đối với sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam, từ đó tìm
ra giải pháp phù hợp hạn chế đến mức thấp nhất mặt trái của nó là hết sức cần
thiết.
Đề tài luận văn thạc sĩ của chúng tôi với tiêu đề Mặt trái của đầu t trực tiếp n-
ớc ngoài ở Việt Nam là nhằm góp phần tìm ra giải pháp cho vấn đề đó.
2) Tình hình nghiên cứu
Đầu t trực tiếp nớc ngoài và tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội ở nớc ta hiện nay là một vấn đề lớn và phức tạp, do đó luôn đợc các cấp, các
ngành, Đảng và Nhà nớc đặc biệt quan tâm. Đã có hàng trăm công trình khoa học
nghiên cứu về vấn đề này, trong đó liên quan trực tiếp đến đề tài có các công trình
đáng chú ý sau :
- Đầu t trực tiếp nớc ngoài ở Việt Nam- Thực trạng và giải pháp, của Trần
Xuân Tùng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005. Công trình này đã phân tích đ-
ợc bản chất và xu thế vận động của đầu t trực tiếp nớc ngoài (FDI), cũng nh vai trò
của nó đối với quá trình phát triển kinh tế nớc ta trong quá trình đổi mới, nêu đợc
nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế của việc thu hút FDI ở Việt Nam;
đồng thời đa ra đợc một số giải pháp cơ bản nhằm huy động và sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn FDI.
- Đầu t trực tiếp nớc ngoài với công cuộc công nghiệp hóa ở Việt Nam, của
TS Nguyễn Trọng Xuân, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội 2002. Thông qua việc làm
rõ bản chất của đầu t trực tiếp nớc ngoài, tác giả đa ra một số quan điểm và giải
pháp về thu hút FDI nhằm phục vụ công cuộc CNH, HĐH trong thời gian tới ở nớc
ta.
- Đầu t trực tiếp nớc ngoài với tăng trởng kinh tế ở Việt Nam, của Vũ Trờng
Sơn, NXB thống kê, Hà Nội - 1997. Từ việc phân tích hoạt động đầu t trực tiếp nớc
ngoài ở Việt Nam từ 1988 - 1997 và tác động của nó đến tăng trởng kinh tế, tác giả
đã đa ra các giải pháp nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI.
- Đầu t trực tiếp nớc ngoài với phát triển kinh tế ở Việt Nam, của ThS Nguyễn
Văn Tuấn, NXB T pháp, Hà Nội - 2005. Đây là một đề tài nghiên cứu có
phạm vi rộng về lịch sử hình thành, phát triển của hoạt động FDI, trên cơ sở đó tác
giả cũng đa ra một số giải pháp nhằm huy động và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn
FDI đối với kinh tế Việt Nam.
Các công trình trên đây đã nhìn nhận, tiếp cận vấn đề ở nhiều góc độ khác
nhau, giúp tôi có đợc những quan điểm, nhận thức chung về lý luận đối với đầu t
trực tiếp nớc ngoài (ĐTTTNN) và nhiều tài liệu cần thiết để kế thừa trong quá trình
thực hiện luận văn. Tuy vậy, mặt trái của ĐTTTNN thì lại cha có công trình nào
nghiên cứu một cách toàn diện và hệ thống, nhất là dới giác độ của một luận văn
thạc sỹ.
3) Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu: là nhằm tìm ra những mặt trái của ĐTTTNN tại Việt
Nam hiện nay, trên cơ sở đó đa ra các giải pháp khắc phục, nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động của khu vực ĐTTTNN ở nớc ta trong thời gian tới.
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về ĐTTTNN.
- Phân tích, đánh giá mặt trái của ĐTTTNN tới sự phát triển kinh tế - xã hội
của Việt Nam thời gian qua.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm hạn chế đến mức thấp nhất mặt trái
của ĐTTTNN, nhằm phát huy những tác động tích cực của nó trong quá trình phát
triển kinh tế- xã hội ở nớc ta.
4) Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tợng nghiên cứu: Hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài tại Việt Nam.
* Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: mặt trái của ĐTTTNN ở Việt Nam.
+ Về thời gian: chủ yếu từ 1995 đến nay.
5) Phơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phơng pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
luận văn sử dụng các phơng pháp cụ thể nh: trừu tợng hóa khoa học, logic- lịch sử,
phân tích - tổng hợp, thống kê - so sánh.
6) Những đóng góp mới của luận văn
- Phân tích một cách toàn diện mặt trái của đầu t trực tiếp nớc ngoài ở Việt
Nam cả trên lĩnh vực kinh tế và đời sống xã hội.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế đến mức thấp nhất những tác động
trái chiều của đầu t trực tiếp nớc ngoài trong thời gian tới.
7) Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
gồm 3 chơng:
Chơng 1: Những vấn đề lý luận chung về đầu t trực tiếp nớc ngoài
Chơng 2: Phân tích mặt trái của đầu t trực tiếp nớc ngoài ở Việt Nam
hiện nay
Chơng 3: Một số giải pháp hạn chế mặt trái của đầu t trực tiếp nớc ngoài ở
Việt Nam trong thời gian tới
Chơng 1
Những Vấn Đề chung Về Đầu TƯ Trực Tiếp Nớc Ngoài
1.1. MT S VN lý luận c BN V đầu t trực tiếp nớc ngoài
1.1.1. Khái niệm v đặc điểm của ĐTTTNN
a. Khái niệm đầu t trực tiếp nớc ngoài
Theo quy định của Luật đầu t nớc ngoài tại Khoản 1, Điều 2 (đợc sửa đổi, bổ
sung năm 2000): Đầu t trực tiếp nớc ngoài là việc nhà đầu t nớc ngoài đa vào Việt
Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu t theo
qui định của luật này, trong đó nhà đầu t đợc hiểu là tổ chức kinh tế, cá nhân nớc
ngoài đầu t vào Việt Nam. Nh vậy, theo khái niệm này, đầu t trực tiếp nớc ngoài đ-
ợc hiểu là sự di chuyển vốn, tài sản, công nghệ hoặc bất kỳ tài sản nào từ nớc đi
đầu t sang nớc tiếp nhận đầu t để thành lập hoặc kiểm soát doanh nghiệp nhằm
mục đích thu lợi nhuận.
Dới góc độ kinh tế chính trị, đầu t trực tiếp nớc ngoài là một hình thức của xuất
khẩu t bản để xây dựng những xí nghiệp mới, hoặc mua lại những xí nghiệp đang
hoạt động ở nớc nhận đầu t, biến nó thành chi nhánh của các công ty mẹ ở chính
quốc. Đây là hình thức đầu t mà quyền sở hữu, quyền sử dụng, quản lý vốn của ng-
ời đầu t thống nhất với nhau, tức là họ trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý, tổ
chức và điều hành các dự án đầu t, chịu trách nhiệm về kết quả rủi ro trong kinh
doanh và thu lợi nhuận. Mục tiêu của quá trình này là tối đa hóa lợi nhuận cho nhà
đầu t.
b. Đặc điểm của đầu t trực tiếp nớc ngoài
Đầu t trực tiếp nớc ngoài có các đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, các yếu tố đầu t đợc di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia
Đặc điểm này có nghĩa là FDI gắn liền với việc di chuyển tiền và tài sản giữa các
quốc gia. Vì vậy, FDI sẽ làm tăng lợng tiền và tài sản của nền kinh tế nớc tiếp
nhận, làm giảm lợng tiền và tài sản của nớc đi đầu t. Tài sản ở đây bao gồm tài sản
hữu hình (máy móc, thiết bị, công nghệ, nguyên vật liệu), tài sản vô hình (sáng
chế, nhãn hiệu, bí quyết kỹ thuật, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý). FDI không
chỉ di chuyển vốn thuần túy, mà còn bao gồm chuyển giao công nghệ, cơ chế bảo
hộ quyền sở hữu của nhà đầu t về các đối tợng sở hữu.
Do gắn với việc di chuyển tài sản, nên mỗi loại tài sản đòi hỏi nớc tiếp nhận có cơ
chế, chính sách bảo hộ quyền của chủ đầu t phù hợp với tính chất đặc thù của từng
loại.
Thứ hai, FDI đợc tiến hành thông qua việc thành lập các doanh nghiệp mới,
mua lại các chi nhánh, doanh nghiệp hiện có, hoặc tiến hành các hoạt động hợp
nhất và chuyển nhợng doanh nghiệp.
Điều đó cho thấy hoạt động FDI có thể diễn ra theo nhiều hình thức và phơng
thức rất đa dạng. Một nớc có thể khai thác tính đa dạng của các hình thức và phơng
thức đầu t để tăng cờng thu hút vốn FDI từ nớc ngoài cũng nh tiến hành đầu t ra n-
ớc ngoài. Việc thành lập và phát triển các thị trờng tài chính, đặc biệt là thị trờng
chứng khoán là điều kiện thúc đẩy sự gia tăng nhanh chóng dòng vốn đầu t trực
tiếp nớc ngoài.
Thứ ba, chủ sở hữu đầu t có thể là ngời nớc ngoài, sở hữu 100% vốn hoặc
đồng chủ sở hữu vốn với một tỷ lệ nhất định đủ mức khống chế và trực tiếp tham
gia quản lý hoạt động của doanh nghiệp.
Tỷ lệ sở hữu vốn khống chế này từ 10% trở lên trong tổng số vốn của doanh
nghiệp tùy luật pháp của mỗi nớc quy định. Đây là yếu tố quyết định đến tính chất
trực tiếp của nhà đầu t nớc ngoài trong việc đa ra các quyết định đầu t và quản trị
doanh nghiệp. Chính vì có sự thay đổi cơ bản về hình thức sở hữu trong FDI nên
cần có thể chế bảo hộ quyền sở hữu của nhà đầu t nớc ngoài rõ ràng và chặt chẽ thì
mới tạo ra môi trờng đầu t hấp dẫn. Việc bảo đảm tỷ lệ sở hữu ở mức khống chế
còn là cơ sở để các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài trở thành những chi nhánh
của các công ty ở nớc đầu t.
Đặc trng này là cơ sở để phân biệt sự khác nhau giữa FDI với hoạt động thơng
mại, gia công quốc tế. Trong hoạt động thơng mại có sự dịch chuyển sở hữu về
hàng hóa hoặc dịch vụ từ ngời bán sang ngời mua trên nguyên tắc thỏa thuận. Ngời
mua phải trả tiền cho ngời bán để có quyền sở hữu về hàng hóa hoặc sử dụng dịch
vụ từ ngời bán. Trong hoạt động gia công quốc tế, một bên thuê bên kia gia công
sản phẩm theo đơn đặt hàng, thanh toán tiền công và các khoản chi phí khác theo
từng sản phẩm trong từng thời gian ngắn. Thơng mại quốc tế ra đời và phát triển
trên cơ sở lợi thế so sánh, còn FDI gắn với khả năng khai thác nguồn lực để phát
triển. Đặc điểm này làm cho các khoản lợi nhuận thu đợc từ FDI lớn hơn nhiều so
với thơng mại quốc tế. Khi đầu t gắn với thơng mại thì lợi nhuận thơng mại là một
phần lợi nhuận của hoạt động đầu t đợc phân phối lại. Do vậy có thể khẳng định
rằng, đầu t quốc tế là sự bổ sung cần thiết cho hoạt động thơng mại quốc tế; việc tổ
chức hoạt động FDI phải xử lý nhiều vấn đề phức tạp hơn so với hoạt động buôn
bán thông thờng.
Thứ t, đầu t trực tiếp nớc ngoài chủ yếu do các công ty xuyên quốc gia thực
hiện, bởi chủ thể hoạt động đầu t là t nhân với mục tiêu cơ bản thu lợi nhuận (trừ
một số doanh nghiệp nhà nớc và một ít đầu t của chính phủ).
Hoạt động FDI diễn ra khi có thị trờng đầu t có khả năng tạo lợi nhuận cao,
nghĩa là có chênh lệch về tỷ suất lợi nhuận của vốn và chi phí giữa nớc đầu t và nớc
nhận đầu t do lợi thế so sánh. Điều này phân biệt FDI và ODA.
Các khoản ODA của các chính phủ gắn với những cam kết và ràng buộc chặt
chẽ giữa nớc viện trợ và nớc nhận viện trợ, chịu sự chi phối đáng kể bởi quan hệ
chính trị giữa hai nớc. Các pháp nhân và thể nhân đầu t ODA không thể gây sức ép
với nớc tiếp nhận phải có những điều chỉnh nhất định về chính sách, thể chế và cả
những vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân quyền. ODA phần lớn là vốn vay, nên
nếu không đợc sử dụng có hiệu quả sẽ làm cho nớc nhận viện trợ trở thành con nợ
quốc tế ngày càng nhiều.
Trong khi đó, FDI ít có khả năng xảy ra tình trạng này vì chủ yếu là đầu t do
doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động đầu t và kinh doanh, đợc
tính toán kỹ trớc khi quyết định đầu t. Đồng thời, hoạt động FDI khác với vay tín
dụng thơng mại theo lãi suất thị trờng với những cam kết và thế chấp hết sức
nghiêm ngặt, mà không đợc giám sát chặt chẽ sẽ dẫn đến tình trạng vay tín dụng
thơng mại để đầu t, khó có khả năng hoàn vốn, chậm thanh toán nợ, gây ra tình
trạng nợ nớc ngoài vợt quá giới hạn cho phép.
Các công ty xuyên quốc gia (TNCs) là những tập đoàn có hệ thống các chi
nhánh sản xuất ở nớc ngoài, có tiềm lực lớn về vốn, công nghệ cao, nhãn hiệu sản
phẩm có uy tín và danh tiếng lớn trên toàn cầu, tính năng động cao, đội ngũ các
nhà quản lý có trình độ cao, có khả năng điều hành các hoạt động sản xuất và phân
phối trên toàn cầu, có năng lực cạnh tranh cao. Các nớc đang phát triển và các
doanh nghiệp của họ có thể tiếp cận từ các công ty xuyên quốc gia thông qua hoạt
động đầu t trực tiếp để thu hút nguồn vốn lớn, công nghệ nguồn, đội ngũ cán bộ
quản lý có trình độ cao, cải thiện năng lực cạnh tranh và năng động hóa các quan
hệ giao dịch. Bên nớc tiếp nhận ngoài mục tiêu thu hút vốn đầu t từ nhà đầu t nớc
ngoài còn có mục tiêu tiếp nhận kiến thức và kỹ năng quản lý. Kỹ năng quản lý và
loại tài sản vô hình cực kỳ quan trọng đối với các nớc có nền kinh tế chuyển đổi
sang nền kinh tế thị trờng, khía cạnh này tăng thêm tính chất đa phơng diện của
hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài. Các công ty đa quốc gia thờng thuộc các nớc
công nghiệp phát triển, do đó, dòng vốn đầu t trực tiếp ban đầu xuất phát từ các n-
ớc công nghiệp và tạo nên những xu hớng chính trong hoạt động FDI. Các nớc
đang phát triển khi đã đạt đến trình độ phát triển nhất định, tích lũy đợc vốn, ngoại
hối có thể và cần phải khuyến khích doanh nghiệp của nớc đó đầu t ra nớc ngoài để
tham gia ngày càng nhiều vào thị trờng đầu t thế giới.
Thứ năm, các chủ đầu t trực tiếp nớc ngoài tham gia kiểm soát, điều hành
quá trình đầu t và kinh doanh của doanh nghiệp.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét