Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Tổng quan của đói nghèo

về định nghĩa đói nghèo: Nghèo đói bao gồm nghèo tuyệt đối và nghèo tơng
đối.
+ Nghèo tuyệt đối: là tình trạng một bộ phận dân c không đợc hởng và
thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con ngời mà những nhu cầu này đã đợc xã
hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế và phong tục tập quán của địa
phơng.
+ Nghèo tơng đối: là tình trạng một bộ phận dân c sống dới mức trung
bình của cộng đồng.
+ Theo khía cạnh kinh tế: Nghèo là do sự thiếu lựa chọn dẫn đến cùng cực
và thiếu năng lực tham gia vào đời sống kinh tế xã hội của quốc gia, chủ yếu là
trong lĩnh vực kinh tế.
+ Theo khía cạnh khác: Nghèo là sự phản ánh trình độ phát triển kinh tế xã
hội trong từng giai đoạn lịch sử, trong phạm vi một quốc gia, một khu vực, một
vùng.
- Năm 1998 UNĐP công bố một bản báo cáo nhan đề khắc phục sự
nghèo khổ của con ngời đã đa ra những định nghĩa về nghèo.
+ Sự nghèo khổ của con ngời: thiếu những quyền cơ bản của con ngời nh
biết đọc, biết viết, đợc tham gia vào các quyết định cộng dồng và đợc nuôi dỡng
tạm đủ.
+ Sự nghèo khổ tiền tệ: thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả năng chi
tiêu tối thiểu.
+ Sự nghèo khổ cực độ: nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng
thoả mãn những nhu cầu tối thiểu.
+ Sự nghèo khổ chung: mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn đợc xác định
nh sự không có khả năng thoả mãn những nhu cầu lơng thực và phí lơng thực
chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi đợc xác định khác nhau ở nớc này hoặc nớc
khác.
Quan niệm của Việt Nam
Hiện nay ở Việt Nam có nhiều ý kiến khác nhau xung quanh khái niệm
nghèo đói, song ý kiến chung nhất cho rằng:
ở Việt Nam thì tách riêng đói và nghèo thành 2 khái niệm riêng biệt.
- Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân c chỉ có điều kiện thoả mãn một
phần những nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn
mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phơng diện.
- Đói: là tình trạng một bộ phận dân c nghèo có mức sống dới mức tối
thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu và vật chất để duy trì cuộc sống.
Đó là các hộ dân c hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ 1 đến 3 tháng, thờng vay mợn
cộng đồng và thiếu khả năng chi trả. Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể,
nhà ở dốt nát, con thất học, bình quân thu nhập dới 13kg gạo/ngời/tháng (tơng
đơng 45.000VND).
Qua các định nghĩa trên, ta có thể đa ra định nghĩa chung về nghèo đói:
Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân c không có những điều kiện về cuộc
sống nh ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền đợc tham gia vào các
quyết định của cộng đồng
Qua các cách tiếp cận trên đã giúp chúng ta nâng cao sự hiểu về các
nguyên nhân gây ra nghèo đói nhằm có những phơng hớng cách thức hành động
đúng đắn để tấn công đẩy lùi nghèo đói, làm cho chất lợng cuộc sống của ngời
dân ngày càng tốt đẹp hơn.
Các khía cạnh của đói nghèo.
Về thu nhập:
Đa số những ngời nghèo có cuộc sống rất khó khăn, cực khổ. Họ có mức
thu nhập thấp. Điều này do tính chất công việc của họ đem lại. Ngời nghèo th-
ờng làm những công việc đơn giản, lao động chân tay nhiều, công việc cực nhọc
nhng thu nhập chẳng đợc là bao. Hơn thế nữa, những công việc này lại thờng rất
bấp bênh, không ổn định, nhiều công việc phụ thuộc vào thời vụ và có tính rủi
ro cao do liên quan nhiều đến thời tiết (chẳng hạn nh ma, nắng, lũ lụt, hạn hán,
động đất ). Các nghề thuộc về nông nghiệp, lâm nghiệp, ng nghiệp là những ví
dụ cho vấn đề này. Do thu nhập thấp nên việc chi tiêu cho cuộc sống của những
ngời nghèo là rất hạn chế. Hầu hết các nhu cầu cơ bản, tối thiểu của con ngời
nh cái ăn, cái mặc, chỗ ở chỉ đợc đáp ứng với mức độ rất thấp, thậm chí còn
không đủ. Nhiều ngời rơi vào cảnh thiếu ăn liên miên: cha nói đến vấn đề đủ
dinh dỡng, riêng việc đáp ứng lợng Kcalo cần thiết, tối thiểu cho con ngời để có
thể duy trì hoạt động sống bình thờng họ cũng cha đáp ứng đợc, hoặc đáp ứng
một cách khó khăn. Điều này đã kéo theo hàng loạt các vấn đề khác nh làm
giảm sức khoẻ của ngời nghèo, do đó giảm năng suất lao động, từ đó giảm thu
nhập cứ nh thế, nó đã tạo nên vòng luẩn quẩn mà ngời nghèo rất khó thoát ra
đợc.
Thu nhập thấp đã tạo nên tình trạng thiếu tài sản ở những ngời nghèo. Tài
sản ở đây có thể là tài sản vật chất, tài sản con ngời, tài sản tự nhiên, tài sản tài
chính, tài sản xã hội. Tài sản con ngời thể hiện ở khả năng có đợc sức lao động
cơ bản, kỹ năng và sức khoẻ tốt. Nh đã trình bày ở trên, do thu nhập thấp nên
ngời nghèo không thể đáp ứng một cách đầy đủ nhu cầu về lơng thực thực
phảam. Ăn uống cực kì thiếu thốn cộng với lao động nặng nề đã làm giảm sức
khoẻ của ngời nghèo do đó cũng không đảm bảo đợc các kỹ năng cũng nh sức
lao động cơ bản. Tài sản tự nhiên nh đât đai, thiếu tài sản tự nhiên có nghĩa là
thiếu, không có hoặc có nhng đất đai quá cằn cỗi, không thể canh tác đợc. Tài
sản vật chất ở đây nh nhà ở, phơng tiện sản xuất - ngời nghèo có rất ít hoặc hầu
nh không có các phơng tiện sản xuất. Điều này đã hạn chế khả năng lao động
của họ, làm họ khó khăn hơn nhiều so với những ngời có đủ phơng tiện sản xuất
nó cũng làm giảm thu nhập của họ. Còn về nhà ở, đại đa số ngời nghèo sống
trong những căn nhà tạm bợ, dột nát, chật chội. Nhiều căn nhà không đủ đảm
bảo an toàn, không bảo đảm sức khoẻ cho những ngời sống trong đó. Do không
có những tài sản giá trị để bảo đảm nên ngời nghèo cũng có rất ít khả năng tiếp
cận với các tổ chức cho vay vốn, do thu nhập thấp nên ngời nghèo cũng không
có khả năng tiết kiệm nhiều. Đó chính là thiếu hụt tài sản tài chính. Còn tài sản
xã hội, nh các mối quan hệ và trách nhiệm đối với nhau để khi cần có thể nhờ
cậy và ảnh hởng chính trị đối với các nguồn lực, đối với ngời nghèo điều này
cũng rất hạn chế, do thu nhập thấp, lúc nào cũng phải lo chạy ăn đủ bữa nên ng-
ời nghèo không quan tâm hoặc không có khả năng tham gia nhiều vào các mối
quan hệ xã hội. Một điều cản trở nữa là, hầu hết khi tham gia vào các nhóm, tổ
chức nào đó cũng đều phải đóng một khoản phí nhất định, ngời nghèo lo ăn còn
cha đủ, nói gì đến việc bỏ tiền tham gia nhóm, hội nào đó. Điều này đã làm cho
ngời nghèo dần bị cô lập và do đó khó nhận đợc sự giúp đỡ từ các nhóm, hội khi
gặp khó khăn.
Y tế - giáo dục
Những ngời nghèo có nguy cơ mắc phải các bệnh thông thờng cao nh ốm
đau, các bệnh về đờng giao tiếp, tình trạng sức khoẻ không đợc tốt do ăn uống
không đảm bảo, lao động cực nhọc. Ngời nghèo thờng sống ở những vùng có
điều kiện vệ sinh, y tế thấp, còn nhiều hạn chế, chẳng hạn, họ không đợc sử
dụng nguồn nớc sạch, không có công trình phụ hợp vệ sinh, điều này cũng làm
giảm đáng kể sức khoẻ của họ. Nó đã dẫn đến tình trạng tỷ lệ chết của trẻ sơ
sinh trong nhóm hộ nghèo, số trẻ bị suy dinh dỡng và số bà mẹ mang thai thiếu
máu rất cao. Có điều này là do ngời nghèo có thu nhập thấp, không đủ trả khoản
tiền viện phí lớn cũng nh các chi phí thuốc men khác, thêm vào đó có thể do đối
xử bất bình đẳng trong xã hội, ngời nghèo không đợc quan tâm chữa trị bằng
ngời giàu nên tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ y tế của ngời nghèo là rất thấp. Bên
cạnh đó, do nhận thức của ngời nghèo, họ thờng không quan tâm lắm bệnh tật
của mình, khi bị bệnh họ thờng cố tự chạy chữa bằng mọi biện pháp rẻ tiền, chỉ
đến khi bệnh trở nên trầm trọng họ mới vào viện vì vậy việc điều trị đem lại
hiệu quả không cao mà còn tốn thêm nhiều khoản tiền không đáng có.
Tình trạng giáo dục đối với ngời nghèo cũng là vấn đề đáng thất vọng. Hầu
hết những ngời nghèo không đủ điều kiện học đến nơi đến chốn. Tỷ lệ thất học,
mù chữ ở hộ nghèo, đói cao. Có tình trạng nh vậy là do các gia đình này không
thể trang trải đợc các chi phí về họctập của con cái họ nh tiền học phí, tiền sách
vở đi học, họ sẽ mất đi một lao động trong gia dình. Những ngời nghèo cũng
đã nhận thức rõ đợc tầm quan trọng của học thức với nghèo đói nhng vấn đề học
phí của con em họ quả là vấn đề quá khó khăn với tình hình tài chính của gia
đình. Một phụ nữ đã nói: Các con tôi đã sẵn sàng tới trờng vào tháng 9, nhng
tôi không biết làm thế nào để có thể cho cả ba đứa tới trờng. ở một số nớc, trẻ
em phải thôi học bởi lỡ hạn nộp học phí đến đúng vào lúc mà gia đình không có
khả năng thanh toán nhất.
Tóm lại, y tế - giáo dục là vấn đề đợc nhiều ngời nghèo quan tâm, họ cũng
đã hiểu rõ tầm quan trọng của các yếu tố này tới bản thân họ cũng nh tơng lai
của họ và gia đình nhng do thu nhập thấp, không đủ trang trải, học phí, viện phí,
họ đành phải để con cái thôi học, ngời bệnh không đợc khám và chữa chạy
đúng mức, kịp thời, hầu hết các ngời nghèo không đợc tiếp cận với các dịch vụ
y tế. Điều này đã làm ảnh hởng đến sức khoẻ của họ, giảm sức khoẻ cũng nh
hạn chế cơ hội phát triển của các thế hệ sau.
Nguy cơ dễ bị tổn thơng
ở những ngời nghèo, nguy cơ dễ bị tổn thơng là nhân tố luôn đi kèm với
sự khốn cùng về vật chất và con ngời. Vậy nguy cơ dễ bị tổn thơng là gì? Nó
chính là nguy cơ mà ngời nghèo phải đối mặt với nhiều loại rủi ro nh bị ngợc
đãi, đánh đập, thiên tai, bị thôi việc, phải nghỉ học Nói cách khác, những rủi
ro mà ngời nghèo phải đối mặt do tình trạng nghèo hèn của họ chính là nguyên
nhân khiến họ rất dễ bị tổn thơng. Những ngời nghèo do tài sản ít, thu nhập
thấp, họ chỉ có thể trang trải hạn chế, tối thiểu các nhu cầu thiết yếu nhất của
cuộc sống. Vì vậy, khi rủi ro xảy ra họ rất dễ bị tổn thơng và rất khó vợt qua đ-
ợc các cú sốc có hại, những cú sốc mang tính tạm thời mà những ngời có nhiều
tài sản hơn dễ dàng vợt qua đợc. Do thu nhập thấp, ngời nghèo có rất ít khả
năng tiếp cận với các cơ hội tăng trởng kinh tế, vì thế họ thờng phải bỏ thêm các
chi phí không đáng có hoặc giảm thu nhập. ở các hộ nghèo, khi có rủi ro xảy ra
nh mất cắp hay có ngời bị ốm đau thì họ dễ bị rơi vào tình trạng khủng hoảng,
làm đảo lộn cuộc sống của cả gia đình mà một thời gian lâu sau mới có thể
phục hồi đợc. Cũng có khi việc khắc phục những rủi ro trong ngắn hạn có thể
làm trầm trọng thêm sự khốn cùng của họ trong dài hạn. Chẳng hạn, ví dụ trên,
do thiếu tài sản nên để chạy chữa cho một ngời bị ốm, gia đình đã buộc phải
quyết định cho một đứa con nghỉ học hay họ phải bán trâu, bò, ngựa những
phơng tiện lao động cần thiết của gia đình. Cũng có thể ngời bệnh thì không
khỏi đợc còn gia đình từ cảnh khá giả rơi vào cảnh khốn cùng. Nh vậy, nếu có
thêm một vài sự kiện nghiêm trọng nữa xảy ra thì sự suy sụp đến cùng kiệt là
điều khó tránh khỏi với ngời nghèo.
Nguy cơ dễ bị tổn thơng đã tạo nên một tâm lý chung của ngời nghèo là sợ
phải đối mặt với rủi ro, vì vậy họ luôn né tránh với những vấn đề mang tính rủi
ro cao, kể cả khi điều đó có thể đem lại nhiều lợi ích cho họ nếu thành công (ví
dụ đầu t vào giống lúa mới, áp dụng phơng thức sản xuất mới ) chính điều này
đã làm họ sống tách biệt với xã hội bị cô lập dần với guồng quay của thị trờng
và do vậy cuộc sống của họ càng trở nên bần cùng hơn.
Không có tiếng nói và quyền lực
Những ngời nghèo thờng bị đối xử không công bằng, bị gạt ra ngoài lề xã
hội do vậy họ thờng không có tiếng nói quyết định trong các công việc chung
của cộng đồng cũng nh các công việc liên quan đến chính bản thân họ. Trong
cuộc sống những ngời nghèo chịu nhiều bất công do sự phân biệt đối xử, chịu
sự thô bạo, nhục mạ, họ bị tớc đi những quyền mà những ngời bình thờng khác
nghiễm nhiên đợc hởng. Ngời nghèo luôn cảm thấy bị sống phụ thuộc, luôn
nơm nớp lo sợ mọi thứ, trở nên tự ti, không kiểm soát đợc cuộc sống của mình.
Đó chính là kết quả mà nguyên nhân không có tiếng nói và quyền lực đem lại.
Một ngời nghèo ở Trà Vinh nói họ chẳng đợc gọi đi họp vì nhà ở xa, khi nào
phải đi lao động thì mới đợc gọi tới. Kể cả khi họ tham gia đợc các cuộc họp
của cộng đồng thì họ cũng không thể quyết định đợc vấn đề gì dù rằng vấn đề
đó liên quan đến lợi ích của chính họ.
Không có tiếng nói và quyền lực còn thể hiện ở chỗ những ngời phụ nữ bị
đối xử bất bình đẳng trong chính gia đình của họ. Ngời phụ nữ không có quyền
quyết định việc gì và phải phụ thuộc hoàn toàn vào ngời chồng của họ.
1.2. Các thớc đo chuẩn mực đánh giá đói nghèo
1.2.1. Các thớc đo đói nghèo.
Đo lờng đói nghèo thông qua các chỉ tiêu nh thu nhập, chỉ số về giáo dục
và y tế, nguy cơ dễ bị tổn thơng, không có tiếng nói và quyền lực cho phép có
đợc một cách nhìn tổng thể về đói nghèo. Nó phản ánh chính xác các nguyên
nhân gây ra đói nghèo, từ đó chính phủ hay cộng đồng quốc tế có các biện pháp
thích hợp để hành động.
Đói nghèo theo thu nhập
Sử dụng thớc đo thu nhập hay tiêu dùng bằng tiền để xác định và đo lờng
đói nghèo là một phơng pháp đã đợc áp dụng từ lâu. Từ năm 1899 Seebohm
Rowntree đã sử dụng phơng pháp này để đo lờng đói nghèo. Qua các cuộc khảo
sát về thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình ông đã đa ra định nghĩa: Đói
nghèo là mức tổng thu nhập không đủ trang trải nhu cầu thiết yếu tối thiểu để
duy trì sức lực cơ bắp thuần tuý. Nhu cầu thiết yếu đó bao gồm thực phẩm, tiền
thuê nhà và một số thứ khác. Từ đó ông đã đi đến ớc tính về đói nghèo của
mình. Tuy cách làm này còn nhiều hạn chế song nó cũng phản ánh đợc phần
lớn tình trạng nghèo khổ của ngời dân lúc bấy giờ. Hiện nay WB vẫn sử dụng
phơng pháp và cách tiếp cận giống nh của Rowntree. Cách làm này cũng đợc
nhiều quốc gia áp dụng vì nó có nhiều u điểm. Điều tra hộ gia đình thu đợc
nhiều thông tin, là căn cứ để tìm ra các mối quan hệ giữa các khía cạnh khác
nhau của đói nghèo, từ đó đa ra các giải pháp hữu hiệu. Ngoài ra, thớc đo đói
nghèo theo thu nhập và tiêu dùng đã xác định đợc ngỡng nghèo. Đây là ranh
giới quan trọng về thu nhập hay tiêu dùng mà dới đó, các cá nhân và hộ gia đình
bị coi là nghèo. Cách làm này xem ra rất tiện dụng khi đa ra các con số tổng
hợp đói nghèo trên phạm vi toàn cầu. WB đa ngỡng nghèo là 1USD/ngời/ngày
và 2USD/ngời/ngày
*
bị coi là nghèo đói. Bên cạnh các u điểm nêu trên, phơng
pháp này còn có một số hạn chế. Đó là, các cách điều tra khác nhau giữa các
thời kỳ, giữa các vùng, khu vực, giữa các quốc gia làm cho việc so sánh gặp
nhiều khó khăn, số liệu thu thập từ các hộ gia đình thờng không đầy đủ và chính
xác, không phản ánh hết tình trạng bất bình đẳng chung của đói nghèo.
Y tế và giáo dục
Ngoài cách tiếp cận dựa vào thu nhập WB còn sử dụng thớc đo y tế và giáo
dục để đo lờng sự khốn cùng của ngời dân. Nó bao gồm các chỉ tiêu:
* Về y tế:
- = x 100
- =x100
- = x100
- = x100
- = x 100
- =
- =
- Tuổi thọ bình quân là số năm trung bình một ngời có thể sống đợc.
- Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai là tỷ lệ phụ nữ đang thực hiện hay
bạn đời của họ đang thực hiện bất kỳ hình thức tránh thai nào.
+ Về giáo dục:
- = x 100
- = x 100
- = x 100
Đo lờng nghèo đói dựa vào các chỉ số trên cho phép phản ánh đầy đủ các
khía cạnh của ngời nghèo. Nó giúp ta có một bức tranh đầy đủ hơn về chất lợng
cuộc sống của ngời dân, nó thuận lợi cho việc so sánh nghèo đói ở những nơi có
thu nhập ngang nhau. Nhng, trong thực tế, việc thu thập số liệu về các chỉ số
này gặp rất nhiều khó khăn. Ví dụ nh các ví dụ về tỷ lệ tử vong của trẻ em chủ
*
Tính theo PPP
yếu đợc lấy ra từ các kết quả điều tra dân số định kỳ, vì vậy các số liệu vẫn còn
sự sai lệch khá lớn. Về tuổi thọ bình quân cũng rất khó xác định chính xác vì nó
thờng không đợc đo lờng trực tiếp. Các số liệu về giáo dục cũng thất vọng
không kém. Tỷ lệ đến trờng cũng chỉ là con số ớc tính thay cho số đến trờng
thực tế. Hơn nữa, tỷ lệ tổng số học sinh học tiểu học có thể tăng nếu số học sinh
lu ban tăng. Tuy nhiên, hiện nay, các nhà nghiên cứu đã có nhiều sáng kiến, họ
đang cố gắng tìm ra những phơng pháp hữu hiệ để có thể đa ra các số liệu đáng
tin cậy hơn.
Nguy cơ dễ bị tổn thơng
Đo lờng nguy cơ dễ bị tổn thơng chính là đo lờng mức độ chống chọi với
các cú sốc của những hộ gia đình nh gặp rủi ro, bị ngợc đãi, đánh đập, thiên tai,
bị thôi việc, phải nghỉ học Chẳng hạn, khi gặp rủi ro, các hộ gia đình có khả
năng bù đắp lại các thiệt hại hay không và mức bù đắp nh thế nào? Thông th-
ờng, ngời ta đo lờng và đánh giá nguy cơ dễ bị tổn thơng qua các góc độ:
- Về tài sản vật chất: là những tài sản mà hộ có thể bán đi để bù đắp những
mất mát tạm thời về thu nhập. Đây là thớc đo về khả năng tự bảo hiểm của họ.
Tài sản vật chất của hộ gia đình đợc xem xét theo hai khía cạnh giá trị và tính
thanh khoản của nó. Tài sản có tính thanh khoản cao (hay khả năng hoá giá
cao) thì mức độ bảo hiểm sẽ càng cao.
- Về vốn con ngời: Các hộ gia đình có trình độ học vấn hạn chế thờng dễ
phải chịu sự bất ổn định về thu nhập và ít có khả năng quản lý rủi ro hơn.
- Về đa dạng hoá thu nhập: ở nông thôn, hoạt động phi nông nghiệp mang
tính rủi ro ít hơn hoạt động nông nghiệp. Vì vậy đa dạng hoá thu nhập là thớc
đo khả năng chống chọi lại các rủi ro liên quan đến thời tiết.
- Mối liên hệ với mạng lới an sinh. Đánh giá nguy cơ dễ bị tổn thơng của
hộ gia đình dựa vào các khoản hỗ trợ trông thấy mà họ sẽ đợc nhận khi khủng
hoảng, từ các nhóm hay hiệp hội mà họ là thành viên.
- Tham gia mạng lới an sinh chính thức: Nguy cơ tổn thơng của hộ gia
đình sẽ giảm bớt nếu hộ đủ tiêu chuẩn nhận đợc sự trợ giúp xã hội bảo hiểm
thất nghiệp, lơng hu và các khoản trợ cấp khác do nhà nớc cấp.
- Tiếp cận thị trờng tín dụng. Tơng tự, nguy cơ tổn thơng của hộ gia đình
sẽ giảm nếu hộ tiếp cận đợc nguồn tín dụng một cách nhẹ nhàng.
Kết hợp tất cả góc độ này với nhau ta sẽ có đợc một bức tranh tổng thể về
nguy cơ dễ bị tổn thơng của những ngời nghèo, nó cho biết khả năng chống
chọi của hộ khi có những biến động trong cuộc sống.
Việc đo lờng nguy cơ dễ bị tổn thơng trên thực tế gặp nhiều khó khăn do
nó là một khía niệm động nên việc đo lờng rất phức tạp, tốn nhiều tiền của và
công sức. Không thể đo lờng nó bằng cách quan sát các hộ gia đình mà phải có
cuộc điều tra, theo dõi trong nhiều năm mới có thể nắm bắt đợc những thông tin
cơ bản và tính biến động và nguy cơ dễ bị tổn thơng mà ngời nghèo là rất quan
trọng.
Không có tiếng nói và quyền lực
Không có tiếng nói và quyền lực có thể đợc đo lờng bằng cách sử dụng kết
hợp các biện pháp có sụ tham gia của ngời dân, phỏng vấn và điều tra quốc gia
về các vấn đề nh mức tự do dân sự, tự do chính trị. Không có tiếng nói và quyền
lực thể hiện ở chính mức độ đợc trao quyền của ngời dân. Tức là, xem xét khả
năng tham gia vào các quyết định của gia đình, của cộng đồng vì những ngời
nghèo thờng bị khinh miệt, đối xử và thậm chí còn bị hạn chế một số quyền mà
những ngời bình thờng khác nghiễm nhiên đợc hởng. đo lờng mức độ không có
tiếng nói và quyền lực nó phản ánh nỗi khổ đau mà những ngời nghèo cam lòng
gánh chịu. Họ không có cả những quyền tham gia vào những vấn đề ảnh hởng
trực tiếp đến phúc lợi của họ. Việc đo lờng đói nghèo dựa theo tiêu chí này đợc
ngời nghèo cho là rất quan trọng. Tuy nhiên, việc thực hiện gặp nhiều khó khăn,
tốn kém nhiều tiền của và công sức, nó phải đợc thực hiện bằng các cuộc điều
tra, phỏng vấn, theo dõi trong nhiều năm mới có thể nắm bắt đợc những thông
tin chính xác về vấn đề này.
1.2.2. Các chỉ tiêu và chuẩn mực đánh giá đói nghèo ở Việt Nam
Chỉ tiêu đánh giá nghèo cấp cá nhân và hộ gia đình
- Hộ nghèo: ở Việt Nam để đo tình trạng nghèo đói, có nhiều cách tính hộ
nghèo. Chẳng hạn thành phố Hồ Chí Minh lấy mức thu nhập bình quân dới
500.000đ/1 khẩu/1 năm (tơng đơng trên 33kg gạo/tháng). Vĩnh Phú lấy tiêu
chuẩn dới 500.000đ/1 khẩu/1 năm. Một số nhà kinh tế lấy tiêu thức lơng thực
bình quân nhân khẩu. Gia đình nào có mức thu nhập bình quân dới 30 kg gạo
một khẩu một tháng đợc coi là nghèo. Có ý kiến đề nghị lấy mức tối thiểu do
nhà nớc quy định làm chuẩn. Ngời có mức sống dới mức nghèo khổ là ngời có
thu nhập bình quân một tháng thấp hơn mức tối thiểu do nhà nớc quy định (hiện
nay là 210.000đ). Theo Bộ Lao động- Thơng binh xã hội tiêu chuẩn xác định hộ
nghèo nh sau:
+ Năm 1993: Hộ nghèo là hộ có thu nhập thấp bình quân đầu ngời dới
13kg gạo/tháng ở nông thôn (tơng đơng 45.000 đồng), 20 kg gạo/tháng ở thành
thị (tơng đơng 70.000 đồng).
+ Năm 1996: Hộ nghèo là hộ có thu nhập quy đổi ra gạo bình quân đầu
ngời tháng. Dới 25kg/ngời ở thành thị, dới 20kg/ngời ở nông thôn, đồng bằng
và trung du, dới 15kg/ngời ở nông thôn miền núi.
- Hộ đói: Theo Bộ Lao động - Thơng binh xã hội, tiêu chuẩn xác định hộ
đói nh sau:
+ Năm 1993: Hộ đói là hộ có thu nhập bình quân đầu ngời dới 8kg
gạo/tháng ở nông thôn, 13kg/tháng ở thành thị.
+ Năm 1996: Hộ đói là hộ có thu nhập quy đổi ra gạo bình quân đầu ngời
là 13kg/tháng. Song, trên thực tế những hộ đói là hộ thiếu lơng thực trong gia
đình từ 3 tháng trở lên thể hiện thiếu ăn, đứt bữa, bữa cơm, bữa cháo, ăn độn
khoai sắn Nh vậy những hộ đói thì thờng con cái của họ thất học, nhà cửa dột
nát, đồ dùng trong nhà không đáng kể, không còn lơng thực dự trữ trong nhà,
song cũng không có tiền để mua lơng thực trong ngày, mặc dù trên thị trờng
không thiếu lơng thực.
Hiện nay Bộ Lao động - Thơng binh xã hội mới đa ra chuẩn nghèo mới áp
dụng cho giai đoạn 2001-2005. Theo tiêu chuẩn này thì có hai phơng án để lựa
chọn:
Khu vực áp dụng Chuẩn nghèo (đồng/ngời/tháng)
Phơng án 1 (thấp) Phơng án 2 (cao)
Thành thị 135.000 150.000
Nông thôn đồng bằng 70.000 100.000
Nông thôn miền núi 45.000 80.000
Các chuẩn mực trên có thể đúng trên tổng thể song không thể áp dụng cho
từng đối tợng, từng vùng cụ thể đợc. Nếu lấy mức bình quân 800.000đồng/khẩu/
năm là hộ nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh thì có thể lại là hộ giàu ở vùng nông
thôn miền núi phía Bắc. Vì vậy để chọn và phân loại hộ đói nghèo ở Việt Nam
có thể phải xem xét các đặc trng cơ bản có nó nh: Thiếu ăn từ 3 tháng trở lên

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét