Kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy nếu có chính sách đầu tue hợp lý sẽ tạo
đà cho sự tăng trưởng và chuyển dioch cơ cấu kinh tế .Tỷ trọng phân bổ vôn cho
các ngành khác nhau sẽ mang lại kết quả và hiệu quả khác nhau.Vốn đầu tư cũng
như tỷ trọng vốn đầu tư cho các ngành và các vùng kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp
đến sự chuyển dịcg cơ cấu kinh tế ngành,cơ cấu kinh t ế vùng và cũng đồng thời
ảnh hưởng đến tốc đọ tăng trưởng chuing của cả nền kinh t ế.Không những thế,
giữa dầu tư và tăng trưởng kinhtế cũng như dịch chuyển cơ cấu kinh tế có mối
quan hệ khăng khít vớid nhau.Việc đầu tư vốn nhằm mục đích mang lại hiệu quả
kinh tế cao,tăng trưởng nhanh trtên phạm vi toàn bộ nền kinh tế cũng sẽ dẫn đến
hình thành cơ cấu đầu tư hợp lý.Ngựoc lại tăng trưởng kinh tế cao kết hợp với
việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư hợp lý sẽ tạo nguồn vốn đầu tư dồi dào, định
hướng đầu tư vào các ngành hiệu quả hơn.
2.1.3; Đầu tư tác động làm tăng năng lực khoa học công nghê của đất nưứoc
Đầu tư và đặc biệt là ĐTPT trực tiếp tạo mới và cải tạo chất lượng và năng lục
sản xuất,phục vụ của nền kinhtế và các đơn vị cơ sở.Chính vì vậy, đâu tư cũng là
điều kiện tiên quyết cho quá trình đổi mới và nâng cao năng lực công nghệ của
quốc gia theo cơ cấu kĩ thuệt của đầu tư,trong giai đoạn vừa qua,tỷ trọng giá trị
máy móc thiết bị trong tổng vốn đầu tư của VN chiếm khoảng 28%(xây duẹng
chiếm khaỏng 57%)
Cơ cấu này chưa phản ánh đúng yêu cầu CNH-HĐH,tuy nhiên nó cũng là con ssố
không nhỏ tạo ra năng lực công nghê cho toàn bộ nền kinh tế. Đối với đầu tư
nứoc ngoài,hoạt động của doanh nghiệp FDI thường gắn với các chương trình
chuyển gioa công nghệ trong đó nước nhận vốn cũng có thể là điểm đến của một
số công nghệ và phương thức dản xuất mới. Đối với chi đầu tư của nhà nươc cho
nghiên cứu khoa học và phát triên công nghệ mới mặc dù vẫn còn nhỏ về quy
mô,thấp về tỷ trọng (giai đoạn 2001-2005là 7,6 nghìn tỷ đồng chiếm 0.9% vốn
đầu tư toàn xã hội) nhưng ở đây cũng là một ttrong những biểu hiệ n của đầu tư
5
và ở mức độ nhận định nó cũng có tạo ra và tăng cường năng lực khoa học công
nghệ nước ta (đạt được những thành tựu nhất định trong lĩnh vực nông nghiệp:
giống mới, công nghệ ren…)
2.1.4; Đầu tư vừa tác động đến tông cung vừa tác động đến tổng cầu của nền kinh
tế.
Đầu tư (i)là một trong những bộ phận quan ttrọng của tổng cầu (AD=C+I+G-
M).Vì vậy khi quy mô đầu tư thay đổi cũng sẽ xó tác động trực tiếp đến quy mô
tổng cầu.Tuy nhiên tác động của đầu tu đến tổng ccầu là ngắn hạn.Khi tông cung
chưa kịp thay đổi,sự tăng lên của đầu tư sẽ làm cho tổng cầu tăng kéo theo sự gia
tăng của sản lượng và giá cả các yếu tố đầu vào.Trong dìa hạn khi các thành qủa
của dầu tư đã được huy động và phát huy tác dụng,năng lực sản xuất và cung
ưúng dịch vụ gia tăng thì tông cung cũng sẽ tăng lên.Khi đó sản lượng tiềm năng
sẽ tăng và đạt mức cân bằng ttrong khi giá cả của sản phẩm sẽ có xu hướng đi
xuống.Sản lượng tăng ttrong khi giá cả giảm sẽ kchs thích tiêu dùng và hoạt động
sản xcuất cung ứng dịch vụ của nền kinh tế.
2.2;Trên góc độ vi mô
Trên goc độ vi mô thì đầu tư là nhân tố quyết định sự ra đời,tồn tại và phát triển
của các cơ sở sản xuát cung ưng dịch vụ và của cả các dơn vị vô vị lợi. Để tạo
dựng cơ sở vật chất ,kỹ thuật cho sự ra đời của bất kì cơ sở đơn vị sản xuất và
cung ứng dịch vụ nào đều cần phải xây dựng nhà xưởng,cấu trúc hạ tầng,mua
săm.lắp đặt máy móc thiêt bị tiến hành các công tác xây dựn cơ bản khác và
thuẹc hiện các chi phí gắn liền với hoạt động trong một chu ki chua các cơ sở vật
chất kỹ thuât vừa được tạo ra. Đây chính là biểu hiện cụ thể của hoạt động đầu tư
đối với các đơn vị đang hoạt động,khi cơ sở vật chất kyc thuật của các cơ sở này
hao mòn hư hỏng ccần phải tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới cac cơ sở vật
chất kỹ thuật đã hư hỏng hao mònnày hoặc đổi mới để thích ứng với điều kiện
hoạt động mới của sự phát triên khoa học kỹ thwtj và nhu cầu tiêu dùng của nền
6
sản xuất xã hội.phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho cac trang thiết bị
cũ đã lôic thời. Đó chính là hoạt động đầu tư.
3) Nguồn hình thành và cách phân chia vốn đầu tư phát triển:
Vốn đầu tư là một nguồn lực quan trọng cho hoạt động đầu tư .Đứng trên góc độ
vĩ mô ,nguồn hình thành vốn đầu tư phát triển bao gồm nguồn vốn trong nước va
nguồn vốn nước ngoài .
Nguồn vốn đầu tư trong nước được hình thành từ phần tích lũy của nội bộ nền
kinh tế .Nguồn vốn trong nước bao gồm nguồn vốn nhà nước và nguồn vốn khu
vực dân doanh:
a,Nguồn vốn trong nước bao gồm nguồn vốn của ngân sách nhà nước,nguồn
vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư của doanh
nghiệp nhà nước.Đầy là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn và có ý nghĩa quan trọng
cho họat động đầu tư phát triển kinh tế Việt Nam thời gian qua.
_Nguồn vốn ngân sách nhà nuớc :Đây là nguồn đầu tư chủ yếu,quyết định sự
phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng xã hội.Là nền tảng để thực hiện
CNH-HĐH đất nước.Nhà nước của bất kỳ quốc gia nào cũng quan tâm đến hoạt
động đầu tư này.Đặc biệt là ở các nước đang phát triển như nước ta là yếu tố vật
chất có ỹ nghĩa quyết định để thực hiện tốt nhất các chủ trương,chính sách phát
triển KTXH của đất nước.Ở VN đây là điều kiện vật chất để ổn định và củng cố
chế độ chính trị ,nâng cao hiệu lực,hiệu quả quản lý nhà nước cũng như không
ngừng cải thiện đời sống nhân dân.
Vốn ngân sách đầu tư hiện nay chia làm hai loại:
-Vốn ngân sách TW dung để đầu tư xây dựng các dự án(trồng rừng đầu
nguồn,rừng phòng hộ,các công trình chủ yếu của nền kinh tế…)
-Vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ cho các địa phương đầu tư vào những vấn
đề quan trọng của địa phương.
7
Trong những năm gần đây,quy mo vốn đầu tư nhà nước không ngừng gia tăng
nhờ mở rộng nhiều nguồn thu khác nhau.Trong những năm 2001-2004 đầu tư cho
lĩnh vực nông nghiệp nông thôn chiếm khoảng 25%,công nghiệp 7,9,GTVT và
bưu chính viễn thông28,7%.
Tuy nhiên nguồn vốn này có một số hạn chế như hiệu quả sử dụng thấp tỷ lệ
thất thoát cao,vốn đầu tư thường giàn trải,không trọng tâm trọng điểm,hệ thống
các cơ quan quản lý vốn ngân sách chồng chéo,chức nang không rõ giữa quản lý
nhà nước và quản lý kinh doanh.Do vậy chúng ta cần có một số giải pháp như
làm thế nào để tăng nền kinh tế cao và liên tục,tận thu chống thất thu thuế,phân
bổ NS cho chi đầu tư và chi thường xuyên cho hợp lý
-Nguồn vốn tín dụngđầu tư phát triển :
Tín dụng đầu tư là quan hệ tín dụng trong đó nhà nước là người đi vay để đảm
bảo các khảon chi của ngân sách đồng thời nhà nước cũng là người cho vay để
đảm bảo các chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước về kinh tế.Là nguồn vốn tín
dụng đầu tư phát triển của nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể
sự bao cấp vốn trực tiếp của nhà nước .Ngoài ra nó còn có tác dụng khuyến khích
các doanh nghiệp quan tâm hơn đến hiệu quả đầu tư vì với cơ chế tín dụng các
doanh nghiệp vay vốn phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay.Do có yếu tố ưu
đãi nên khuyến khích các DN đầu tư theo định hướng của nhà nước
Trong những năm gần dây đã sử dụng nguồn vốn này hỗ trợ cho các chương
trình đầu tư lớn.Đầu tư cho các dự án thuộc các ngành công nghiệp và xây dựng
chiếm 51,6%,vào các ngành nông lâm thủy sản chiếm 16,2%,GTVT chiếm
28,8%,các dự án khác chiếm 4,2%.Qúa trình này góp phần tích cực trong việc
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HDH.
-Nguồn vốn tự huy động của các DNNN:Là thành phần giữ vai trò chủ đạo
trong nền kinh tế,các DNNN vẫn nắm giữ một khối lượng vốn nhà nước khá
lớn.Trong những năm 2001-2004 vốn này chiếm 32,3% so với tổng vốn đầu tư
8
nhà nước,trong đó chủ yếu là vốn khấu hao cơ bản của các doanh nghiệp,trích lợi
nhuận sau thuế cho ĐTPT và một phần vay từ các tổ chức tín dụng.Nguồn vốn
đầu tư cho doanh nghiệp dùng để đầu tư cho phát triển sản xuất kinh doanh nâng
cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Theo đánh giá nguồn vốn nguồn vốn khu vực nhà nước trong nhiều năm nay
chiếm tỷ trọng trên 56,6%tổng số vốn đầt tư
b,-Nguồn vốn từ khu vực tư nhân.
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư,phần tích
lũy của các doanh nghiệp dân doanh,của hợp tác xã.Theo đánh giá sơ bộ khu vực
kinh tế ngaòi nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất lớn mà chưa
được huy động triệt để.Việc phát hành trái phiếu chính phủ và trái phiếu của một
số ngân hàng thương mại quốc doanh cho thấy chỉ trong thời gian ngắn đã huy
động được hàng ngàn tỷ đồng và hàng chục tỷ đồng từ khu vực dân cư.Cụ thể
năm 2004 đạt 69,5 tỷ đồng ,ngoài ra tính đến cuối năm 2004 tổng số doanh
nghiệp dân doanh đăng kí hoạt động lên tới 160000 doanh nghiệp với xấp xỉ qui
mô vốn là 140-150 nghìn tỷ đồng .
-Vốn của hộ gia đình:Là phần thu nhập của hộ gia đình không bị tiêu dùng
được tiết kiệm để đầu tư và tiền tích luỹ từ các hoạt động kinh doanh mà không
phải là công ty.
c,-Thị trường vốn:
Là nơi diễn ra các hoạt động mua,bán chứng khoán và các giấy ghi nợ trung
hạn và dài hạn.Đây không phải là các sự việc mua đi bán lại hay chuyển đổi các
giấy tờ có giá từ tay của một chủ thể này sang tay một chủ thể khác một cách đơn
thuần nếu nhìn nhận từ bên ngoài.Về thực chất,đây là quá trình vận động tư bản ở
hình thái tiền tệ -là quá trình chuyển tư bản sở hữu sang tư bản kinh doanh.Thị
trường vốn mà cốt lõi là thị trường chứng khoán như một trung tâm thu gom mọi
nguồn tiết kiệm của từng hộ dân cư,thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các
9
doanh nghiệp,các tổ chức tài chính,chính phủ TW và chính quyền địa phương tạo
ra một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế.Đây được coi là một lợi thế mà không
một phương thức huy động nào có thể làm được.Gần đây việc phát hành trái
phiếu doanh nghiệp ra công chúng đã huy động được một nguồn vốn đáng
kể.Kênh huy động này ngày càng có nhiều doanh nghiệp tham gia.Tính đến cuối
tháng 11-2005 tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp đạt trên 2000 tỷ đồng.Trong
đó hầu hết hầu hết các dơn vị phát hành đều là những tổn công ty lớn như tổng
công ty dầu khí phát hành 300 tỷ đồng,xây dựng song đà 200 tỷ đồng,điện lực
VN 200 tỷ đồng công nghiệp tàu thủy VN 1000tỷ đồng.
2.2:-Nguồn vốn đầu tư nước ngoài:
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nước ngoài trên phạm vi rộng hơn đó là dòng
lưu chuyển vốn quốc tế đó là quá trình chuyển giao nguồn lựuc tài chính giữa các
quốc gia trên thế giới .Theo tính chất lưư chuyển của vốn ,có thể phân loại các
nguồn vốn nước ngoài chính như sau:
-Tài trợ phát triển chính thức ODF:nguồn vốn này bao gồm viện trợ phát triển
chính thức ODA và các hình thức tái trợ phát triển khác .Dòng vốn này phải qua
chính phủ quốc gia tiếp nhận hoặc được bảo lãnh chính thức,dòng vốn phải đáp
ứng cho đầu tư phát triển,duy trì và tạo mới để đảm bảo sự hoạt động của nền
kinh tế và các cơ sở,nó không bao hàm các nguồn vốn mang tính chất nhân đạo
như cứu nạn thiên tai…mà nó mang tính chất dài hạn,trong đó ODA chiếm phần
lớn trong ODF .
Nguồn vốn ODA là nguồn vốn phát triển do các tổ chức quốc tế và các chính
phủ nước ngoài cung cấp với mục tiêu trợ giúp các nước đang phát triển.So với
các hình thức tài trợ khác ODA mang tính ưu đãi cao hơn bất cứ nguồn vốn ODF
nào khác .Nguồn vốn này thường lớn nên có tác dụng nhanh và mạnh đối với
việc giải quyết dứt điểm các nhu cầu kinh tế xã hội của nước nhận đầu tư.Tuy
nhiên tiếp nhận vốn này thường gắn với sự trả giá về mặt chính trị và tình trạng
10
nợ nần chồng chất nếu sử dụng không hiệu qủa vốn vay và nếu thực hiện không
nghiêm ngặt việc trả nợ vay.
Thời gian qua,việc thu hút ODA phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH ở VN đã
diễn ra trong bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều thuận lợi.Kể từ năm 1993
cho đến hết năm 2000 VN đã tổ chức được 8 hội nghị các nhà tài trợ với tổng số
vốn cam kết là 17,54 tỷ usd.Với quy mô tài trợ khác nhau,hiện nay VN có45 đối
tác hợp tác phat triển song phương và hơn 350 tổ chức quốc tế và phi chính phủ
đang hoạt động.
Mặc dù có tính ưu đãi cao song sự ưu đãi của loại vốn này thường đi kềm với các
điều kiện ràng buộc tương đối khắt khe(tính hiệu quả của dự án ,thủ tục chuyển
giao vốn và thị trường…)Vì vậy chúng ta cần xem xét kỹ khi tiếp nhận viện trợ
và cần có nghệ thuật thỏa thuận để có thể nhận vốn ,vừa bảo tồn được các mụa
tiêu có tính nguyên tắc.
-Nguồn vốn tín dụng từ các NHTM: Điều kiện huy động loại vốn này không
dễ dàng như nguồn vốn ODA .Tuy nhiên nó lại có ưu điểm rõ ràng là không gắn
liền với các ràng buộc về chính trị xã hội.Mặc dù vậy thủ tục vay tương đối khắt
khe,thời gian trả nợ nghiêm ngặt,mức lãi xuất cao là những trở ngại không nhỏ
đối với các nước nghèo.
Do được đánh giá là mức lãi xuất tương đối cao cũng như sự thận trọng trong
kinh doanh ngân hàng ,nguồn vốn tín dụng của các NHTM thường được sự dụng
chủ yếu để đáp ứng nhu cầu xuất nhập khẩu và thường là ngắn hạn.Một bộ phận
của nguồn vốn này có thể dung để đầu tư phát triển.Tỷ trọng của nó có thể gia
tăng nếu triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế là lâu dài,đặc biệt là tăng trưởng
xuất khẩu của nước đi vay là sang sủa.Đối với VN việc tiếp cận với các nguồn
vốn này vẫn còn khá hạn chế.
-Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài(FDI).Đây là nguồn vốn quan trọng
cho đâu tư và phát triểnb không chỉ đối với các nước nghèo mà cả đối với các
11
nước phát triển.Nguồn vốn này khác cơ bản với các nguồn vốn nước ngoài khác
là việc tiếp nhận này không phát sinh nợ cho nước tiếp nhận.Thay vì nhận lãi
xuất trên vốn đầu tư,nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đáng khi dự án
đầu tư hoạt động có hiệu quả.Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo toàn bộ tài
nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên nó có thể thúc đẩy phát triển ngành
nghề mới,đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao về kỹ thuật,công nghiệp hay cần
nhiều vốn.Vì thế nguồn vốn này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình
CNH,chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ tăng trưởng nhanh ở nước nhận đầu
tư.Do vậy để sử dụng hiệu quả vốn đầu FDI tùy thuộc chủ yếu vào cách thức huy
động và quản lý sử dụng nó tại nước tiếp nhận đầu tư chứ không phải ở ý đồ của
người đầu tư.
Không những là nguồn bổ sung vốn quan trọng,nguồn vốn FDI còn đóng góp
vào bù dắp thâm hụt tài khoản vãng lai và cải thiện cán cân thanh toán quốc
tế.Theo đánh giá,tỷ trọng đóng góp của vốn đầu tư trực tiếp nứớc ngoài vào GDP
có xu hướng tăng dần qua các năm.Năm 1992 la 2% htì năm 1996 là 7,9% và đến
năm 1999 là 10,3%.Bên cạnh đó nó còn đóng góp vào ngân sách một phần đáng
kể .Đặc biệt nó góp phần tích cực vào việc hoàn chỉnh ngày càng đầy đủ và tốt
hơn hệ thống cơ sở hạ tầng giao thong vận tải,bưu chính viễn thông …dần dần
hình thành khu công nghiệp,khu chế xuất,khu công nghiệp cao góp phần thực
hiện CNH-HDH và đô thị hóa các khu vực phát triển,hình thành các khu dân cư
mới,tạo việc làm cho ngừoi lao động tại các địa phương.
-Thị trường vốn quốc tế: Với xu hướng toàn cầu hóa ,mối lien kết ngày càng
tăng của của các thị trường vốn quốc gia vào hệ thống tài chính quốc gia đã tạo ra
vẻ đa dạng của các nguồn vốn cho mỗi quốc gia và làm tăng khối lượng vốn lưu
chuyển trên phạm vi toàn cầu.Thực tế cho thấy,mặc dù tất cả các nguồn vốn đều
có sự gia tăng về khối lượng nhưng luồng vốn đầu tư qua thị trường chứng khoán
có mức tăng nhanh hơn các luồng vốn khác.
12
Đây là phần tích luỹ từ các đối tượng kinh tế ở nước ngoài được chính phủ và
DN Việt Nam huy động trong hoạt động đầu tư phát triển của mình thông qua
hình thức phát hành trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty(ra nước ngoài hoặc
phát hành trên nội bộ VN nhưng cho phép người nưosc ngoài mua).
Đối với VN,đây là một hình thức huy động vốn vốn khá mới mẻ và còn phức
tạp.Tuy nhiên nguồn vốn này có thể huy động với số lượng lớn trong thời gian
dài để đáp ứng nhu cầu về vốn của nền kinh tế mà không bị ràng buộc về điều
kiện tín dụng,tạo cho VN tiếp cận với thị trường vốn quốc tế… bên cạnh đó hệ
số tín nhiệm của VN thấp nen nếu phát hành thì trái phiếu của VN sẽ chịu lãi xuất
ở mức cao và viêt nam vẫn còn qúa ít kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
Bởi vậy đối với hình thức huy động này chúng ta cần phải nghiên cứu,lựa chọn
loại hình trái phiếu phát hành,thời gian đáo hạn thị trường phát hành và nhà bao
tiêu phù hợp với điều kiện của VN .
2.2,Sự phân chia sử dụng vốn đầu tư phát triển:Để tạo thuận lợi cho quản lý việc
sử dụng vốn đầu tư nhằm đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao,có thể phân chia
vốn đầu tư thành các khoản mục sau:
-Trên giác độ quản lý vĩ mô vvốn đầu tư được phân thành 4 khoản mục lớn
như sau:
+Những chi phí tạo ra tài sản cố định(mà sự biểu hiện bằng tiền là vốn cố
định).
+Những chi phí tạo ra tài sản lưu động (mà sự biểu hiện bằng tiềnlà vốn lưu
động) và các chi phí thường xuyêngắn với một chu kỳ hoạt động của tài sản cố
định vừa được tạo ra.
+Những chi phí chuẩn bị đầu tưchiếm khoảng 0,3-15%vốn đầu tư.
+Chi phí dự phòng.
-Trên giác độ quản lý vi mô tại các cơ sở,những khoản mục trên đây lại được
tách thành những khoản chi tiết hơn:
13
+Những chi phí tạo ra tài sản cố định bao gồm:
.Chi phí ban đầu cho đất đai.
.Chi phí xây dựng,sửa chữa nhà cửa ,cấu trúc hạ tầng.
.Chi phí mua sắm,lắp đặt thiết bị ,dụng cụ mua sắm phương tiện vạn chuyển
.Chi phí khác.
+Những chi phí tạo ra tài sản lưu động bao gồm :
.Chi phí nằm trong giai đoạn sản xuất như chi phí mua nguyên vật liệu,trả
luơng người lao động,chi phí điện nước …
.Chi phí nằm trong giai đoạn lưu thông gồm có sản phẩm dở dang tồn
kho,hàng hóa bán chịu,vốn bằng tiền.
+Chi phí chuản bị đầu tư bao gồm chi phí nghiên cứucơ hội đầu tư,chi phí
nghiên cưu tiền khả thi,chi phí nghiên cứu khả thi và thẩm định dự án đầu tư.
+Chi phí dự phòng.
+Biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Qua phân tích trên ta thấy tăng
số lượng vốn là rất quan trọng nhưng thường có giới hạn về nguồn còn nâng cao
hiệu quả đầu tư quan trọng hơn nhiều vì vừa hết ít vốn vừa gần như không có giới
hạn.
Để nâng cao hiệu quả đầu tư trên cơ sở giảm suất đầu tư xuống là nhiệm vụ rất
khó khăn bởi.Muốn vậy ,cần có giải pháp quyết liệt ở tất cả các khâu của quá
trình đầu tư và đặc biệt quan tâm đến khu vực vốn đầu tư nhà nước.
Trước hết ở khâu quy hoạch chúng ta phải quy hoạch đồng bộ,phải kết hợp
quy hoạch theo ngành và theo cùng lãnh thổ tránh trùng chéo,dàn trải,đồng thời
phải có tầm nhìn để tránh việc vay vốn đầu tư xây dựng đưa vào hoạt động chưa
được mấy năm,chưa trả đựợc nợ đã phải di chuyển khỏi khu vực đông dân hoặc
không gần nguồn nguyên liệu
Khắc phục tình trạng công trình dự án chưa có kế hoạch,thiết kế chưa được
duyệt,chưa có vốn đã thi công gây ra nợ đọng triền mien,rồi cũng lại đến tay nhà
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét